phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn dự kiến đƣợc trình bày trong 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của QLNN về đào tạo nghề. Chƣơng 2: Đánh giá thực trạng QLNN tại các trƣờng cao đẳng nghề tại Hà Nội. Chƣơng 3: Định hƣớng, quan điểm và các giải pháp nâng cao quản lý nhà nƣớc đối với các trƣờng cao đẳng nghề. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ LĨNH VỰC DẠY NGHỀ 1.
Các vấn đề chung về Dạy nghề 1. Khái niệm, đặc điểm và các nhân tố tác động đến dạy nghề 1. Khái niệm dạy nghề Từ trƣớc đến nay, có rất nhiều các khái niệm về dạy nghề đã đƣớc đƣa ra trong các công trình nghiên cứu: - Theo Cac _ Mac, công tác dạy nghề phải bao gồm các thành phần sau: Một là: giáo dục trí tuệ; Hai là: Giáo dục thể lực nhƣ trong các trƣờng Thể dục Thể thao hoặc bằng cách huấn luyện quân sự; Ba là: dạy kỹ thuật nhằm giúp học sinh nắm đƣợc vững những nguyên lý cơ bản của tất cả các quá trình sản xuất, đồng thời biết sử dụng các công cụ sản xuất đơn giản nhất. - Tổ chức Lao động quốc tế ( ILO) đƣa ra khái niệm: Đào tạo nghề là nhằm cung cấp cho ngƣời học những kỹ năng cần thiết để thực hiện tất cả các nhiệm vụ liên quan đến công việc, nghề nghiệp đƣợc giao.
( 29, trang 24) - Theo tài liệu của bộ LĐTB và XH xuất bản năm 2002 thì khái niệm đào tạo nghề đƣợc hiểu: “ Đào tạo nghề là hoạt động nhằm trang bị cho ngƣời lao động những kiến thức, kỹ năng và thái độ lao động cần thiết để ngƣời lao động sau khi hoàn thành khóa học hành đƣợc một nghề trong xã hội. - Theo điều 5, luật Dạy nghề đƣợc Quốc hội khóa XI, kỳ họp 10 thông qua ngày 29/11/ 2006, thì: “ Dạy nghề (đào tạo nghề) là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho ngƣời học nghề có thể tìm đƣợc việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học”. Từ các quan niệm, khái niệm nêu luận trên, theo cách tiếp cận cuả luận văn, khái niệm dạy nghề đƣợc hiểu nhƣ sau: 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Dạy nghề là hoạt động dạy và học mang định hƣớng thực hành cao, nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho ngƣời học nghề để có thể tự tìm việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học. Đặc điểm của dạy nghề Dạy nghề là một hoạt động đào tạo mang tính đặc thù, khác với các loại hình dạy học và đạo tạo hàn lâm khác ở những đặc điểm chủ yếu sau: - Dạy nghề gắn chặt với sản xuất, với doanh nghiệp, với việc làm, với nhu cầu của xã hội, đặc biệt trong điều kiện kinh tế thị trƣờng.
Nội dung thực hành chiếm hơn 70% khối lƣợng chƣơng trình. Mục tiêu của dạy nghề là đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất, dịch vụ, có năng lực thực hành tƣơng xứng với trình độ đào tạo, có đạo đức, lƣơng tâm nghề nghiệp, ý thức kỹ luật, tác phong công nghiệp, có sức khỏe nhằm tạo điều kiện cho ngƣời học nghề sau khi tốt nghiệp cos khả năng tìm đƣợc việc làm hoặc học lên trình độ cao hơn, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc. Mục tiêu của dạy nghề là đào tạo để ngƣời học trở thành ngƣời lao động trong các doanh nghiệp. - Nội dung chƣơng trình, phƣơng pháp giảng dạy trong dạy nghề cũng có những nét riêng.
Đây là hoạt động đào tạo nghề nghiệp mang tính thực hành kỹ thuật cao, đòi hỏi ngƣời học phải đạt trình độ kỹ năng nghề, cố hiểu biết cần thiết và phù hợp để làm đƣợc những công việc phức tạp ở mức độ nhất định, nhất là về kỹ thuật và công nghệ; đồng thời có năng lực thích ứng với sự biến đổi nhanh chóng của thực tế sản xuất kinh odanh. Vì vậy, tỷ lệ thực hành trong dạy nghề thƣờng chiếm khoảng 80% thời gian học tập, có những nghề chiếm tới 90 – 100%. Không chỉ vậy, các trƣờng dạy nghề còn phải thƣởng xuyên cử cán bộ giáo viên đi tìm hiểu và học tập những trang thiết bị hiện đại và đầu tƣ mua những trang thiết bị đó để sinh viên có thể tiếp cận; tạo 1 nền tảng kiến thức vững chắc giúp sinh viên dễ dàng làm việc trong môi trƣờng thực tế. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Đối tƣợng học nghề rất đa dạng và phong phú.
Bất cứ ai, có đủ sức khỏe và điều kiện vật chất, tinh thần và mong muốn biết 1 nghề nào đó đều có thể đăng ký học nghề. Trên thực tế, đối tƣợng học nghề thƣờng là những ngƣời trƣởng thành, thậm chí là lớn tuổi. - Hình thức dạy nghề rất phong phú và đa dạng, bao gồm: + Dạy nghề dài hạn: Đào tạo đội ngũ công nhân, nhân viên kỹ thuật một cách bài bản, theo chƣơng trình chuẩn, thời gian đào tạo 1- 3 năm, tùy theo đặc điểm, độ phức tạp của nghề, hoàn thành khóa học đƣợc cấp bằng nghề với hai trình độ cơ bản là trung cấp nghề và cao đẳng nghề. + Dạy nghề ngắn hạn: Đào tạo cho ngƣời học nghề theo chƣơng trình ngắn hạn, thời gian dƣới 1 năm, hoàn thành khóa học đƣợc cấp chứng chỉ nghề, trình độ đào tạo là sơ cấp nghề.
+ Dạy nghề kèm cặp: Dạy nghề ngay trong quá trình sản xuất, ngƣời học vừa học vừa làm dƣới sự hƣớng dẫn trực tiếp của ngƣời có kinh nghiệm, kỹ năng hơn mình. + Dạy nghề lƣu động: Cơ sở dạy nghề mang thiết bị , tài kiệu hƣớng dẫn và giáo viên trực tiếp nơi có đông ngƣời học để giảng dạy (chủ yếu áp dụng trong dạy nghề ngắn hạn cho lao động nông thôn). Các nhân tố tác động tới dạy nghề: - Khoa học - Công nghệ: Bƣớc vào thế kỷ 21, cuộc cách mạng khoa học công nghệ tiếp tục phát triển với những bƣớc phát triển với những bƣớc tiến nhảy vọt, trở thành động lực, đầu tàu của sự phát triển kinh tế xã hội, kéo theo những biến đổi đột biến, mạnh mẽ đến sự phát triển của xã hội, đặc biệt là trong thời đại xã hội loài ngƣời đang chuyển sang nền kinh tế tri thức. Cách mạng khoa học đƣa thế giới chuyển từ kỷ nguyên công nghiệp sang kỷ nguyên thông tin, trong đó các ngành sản xuất, dịch vụ chủ yếu dựa vào tri thức và công nghệ.
Khoảng cách giữa phát minh khoa học, công nghệ và áp dụng vào thực tế ngày càng thu hẹp. Cách mạng khoa học công nghệ làm cho nhiều ngành, nghề cũ mất đi và 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cũng xuất hiện nhiều ngành nghề mới; cơ cấu ngành, nghề và tỷ trọng của nó trong các lĩnh vực kinh tế cũng thay đổi nhanh chóng, đặc biệt là lĩnh vực dich vụ. Trong điều kiện mới, sự phát triển của một quốc gia phụ thuộc vào nguồn lực con ngƣời là chủ yếu, thay vì dựa vào nguồn tài nguyên, vốn vật chất trƣớc đây. Tỷ trọng lao động trực tiếp giảm mạnh, lao động gián tiếp và dịch vụ tăng nhanh, xuất hiện và gia tăng nhanh chóng công nhân tri thức.
Từ đó, các quốc gia muốn phát triển phải điều chỉnh cơ cấu kinh tế, cơ cấu đầu tƣ hƣớng vào phát triển vốn con ngƣời nhằm làm cho nguồn nhân lực nhanh chóng đƣợc tri thức hóa, nâng cao kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp, năng lực thích nghi cao, thích ứng kịp thời với những biến đổi nhanh chóng của công nghệ và thực tế sản xuất, kinh doanh. Việt Nam là quốc gia đang phát triển ở trình độ thấp nhƣng yếu tố khoa học – công nghệ đang tác động mạnh đến dạy nghề, nhất là khi chúng ta phát triển các kinh tế mũi nhọn, các vùng kinh tế trọng điểm, các khu công nghiệp, khu chế xuất và khu công nghệ cao, sản xuất các mặt hàng đạt tiêu chuẩn quốc tế. Nếu chúng ta không tập trung vào dạy nghề sẽ đến hậu quả không đáp ứng nhu cầu lao động kỹ thuật lành nghề cung ứng cho nền kinh tế quốc dân. - Xu hƣớng toàn cầu hóa – hội nhập Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế tác mạnh đến dạy nghề theo hai hƣớng cơ bản là đặt ra yêu cầu nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm, của doanh nghiệp và cảu quốc gia trong quá trình hội nhập và đảm bảo nguồn lao động kỹ thuật đáp ứng yêu cầu của công nghệ mới, công nghệ cao do có sự tiếp nhận vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài.
+ Ở hƣớng thứ nhất, trong nỗ lực phấn đấu nâng cao năng lực cạnh tranh cấp doanh nghiệp và cấp quốc gia, thì nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn lao động, kỹ thuật trình độ cao, có khả năng tiếp thu nhanh, sáng tạo và làm chủ công nghệ, khả năng chuyển đổi linh hoạt; tính chịu trách nhiệm, khả năng nắm bắt và giao tiếp khách hàng; khả năng làm việc nhóm, làm việc 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trong môi trƣờng đa văn hóa, đa dân tộc, đa tôn giáo. là những yếu tố có tính chất quyết định. Đó là những yếu tố có tính chất quyết định. Đó là những yêu cầu mới về chuẩn mực chất lƣợng nguồn lao động kỹ thuật bảo đảm nâng cao khả năng cạnh tranh trong quá trình hội nhập.
+ Hƣớng thứ hai rất quan trọng tác động đến dạy nghề là đáp ứng yêu cầu lao động kỹ thuật của thị trƣờng lao động trong nƣớc và quốc tế. Việt Nam trong xu thế hội nhập có nhiều cơ hội tạo việc làm mới trong các khu vực: Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài (FDI), doanh nghiệp sản xuất và gia công xuất khẩu với công nghệ sử dụng lao động: lao động xuất khẩu và chuyên gia. Xuất khẩu và chuyên gia cũng là hƣớng mũi nhọn tạo việc làm và tham gia vào thị trƣờng lao động quốc tế và khu vực của Việt Nam. Tuy nhiên, xu hƣớng xuất khẩu lao động trong thời gian tới sẽ chủ yếu là lao động có nghề và chuyên môn kỹ thuật.
Bởi vậy, chuẩn bị nguồn cho xuất khẩu lao động đáp ứng nhu cầu của thị trƣờng quốc tế là rất cần thiết. - Tác động của chuyển dịch cơ cấu kinh tế, các ngành, nghề mới, các khu vực kinh tế động lực.