Chương 1. Cơ sở lý luận quản lý Nhà nước về đào tạo nghề cho thanh niên nông thôn. Thực trạng quản lý Nhà nước về đào tạo nghề cho thanh niên nông thôn trên địa bàn tỉnh Quảng Nam. Định hướng và một số giải pháp hoàn thiện quản lý Nhà nước về đào tạo nghề cho thanh niên nông thôn trên tỉnh Quảng Nam trong thời gian tới.
7 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ ĐÀO TẠO NGHỀ CHO THANH NIÊN NÔNG THÔN 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Thanh niên, thanh niên nông thôn * Thanh niên: Thanh niên là một khái niệm có thể được hiểu và định nghĩa theo nhiều cách. Tùy thuộc vào nội dung tiếp cận, góc độ nhìn nhận hoặc cấp độ đánh giá mà người ta đưa ra định nghĩa khác nhau về thanh niên: Liên hợp quốc định nghĩa thanh niên là nhóm tuổi từ 15 đến 24 tuổi (Theo chương trình sức khỏe sinh sản/sức khỏe tình dục vị thành niên – thanh niên của khối Liên minh Châu Âu và Quỹ Dân số Liên Hiệp Quốc (UNFPA), chủ yếu dựa trên cơ sở phân biệt các đặc điểm về tâm sinh lý và hoàn cảnh xã hội so với các nhóm lứa tuổi khác.
Trong công ước quốc tế của Liên hợp quốc về quyền trẻ em lại xác định trẻ em đến dưới tuổi 18 tuổi. Ở Việt Nam, có một thời gian khá dài, tuổi thanh niên được hiểu gần như đồng nhất với tuổi đoàn viên (từ 15 – 28 tuổi). Về mặt sinh học, các nhà nghiên cứu coi thanh niên là một giai đoạn xác định trong quá trình “tiến hóa” của cơ thể. Các nhà tâm lý học thường nhìn nhận thanh niên là một giai đoạn chuyển tiếp từ tuổi thơ phụ thuộc sang hoạt động độc lập với tư cách là một công dân có trách nhiệm.
Dưới góc độ kinh tế học, thanh niên được xem là một lực lượng lao động xã hội, nguồn bổ sung cho đội ngũ lao động trên tất cả các lĩnh vực. Với các triết gia, văn nghệ sĩ, thanh niên lại được định nghĩa bằng cách so sánh hình tượng: “Thanh niên là mùa xuân của xã hội” là “bình minh của cuộc đời”. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khẳng định tiềm năng, vai trò, vị trí to lớn của thanh niên trong sự nghiệp cách mạng, luôn tin tưởng và nhìn nhận thanh 8 niên theo quan điểm phát triển. Ngay từ khi đất nước còn trong đêm đen nô lệ, Người đã nêu tư tưởng: Thức tỉnh thanh niên để đi đến thức tỉnh dân tộc.
Vào những năm đầu khi nước ta giành được độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy: “Thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà”, “nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh, một phần lớn là do các thanh niên”. Nội dung bao quát của công tác thanh niên của Chủ tịch Hồ Chí Minh là hình thành “lớp người kế thừa xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa hồng vừa chuyên”. “Hồng” theo tư tưởng của Người là “quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng. Đó là điều chủ chốt nhất”; còn “chuyên” là trình độ chính trị, văn hóa, khoa học, kỹ thuật và quân sự.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ Tư Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa VII về công tác thanh niên trong thời kỳ mới đã khẳng định: “Thanh niên là lực lượng xung kích trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Sự nghiệp đổi mới có thành công hay không, đất nước bước vào thế kỷ XXI có vị trí xứng đáng trong cộng đồng thế giới hay không, cách mạng Việt Nam có vững bước theo con đường xã hội chủ nghĩa hay không, phần lớn tùy thuộc và lực lượng thanh niên, vào việc bồi dưỡng, rèn luyện thế hệ thanh niên; công tác thanh niên là vấn đề sống còn của dân tộc, là một trong những nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng”[1, tr. Quốc hội nước Việt Nam đã thông qua Luật thanh niên được ban hành vào năm 2005, trong đó đã khẳng định “Thanh niên là công dân Việt Nam đủ từ 16 đến 30 tuổi” [16,tr. Tóm lại, hiện nay thanh niên Việt Nam là những công dân Việt Nam đủ từ 16 tuổi đến 30 tuổi, vì đây là giai đoạn thanh niên hoàn thiện về thể chất, trí tuệ, đạo đức, và cũng trong giai đoạn này thanh niên đã đủ chín chắn để gánh vác việc nước và việc nhà, là công dân có trách nhiệm đối với những hành động của chính mình.
9 Thanh niên có các quyền, nghĩa vụ của công dân theo quy định của Hiến pháp, pháp luật và các quyền, nghĩa vụ theo quy định của Luật. Thanh niên không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hoá, nghề nghiệp đều được tôn trọng và bình đẳng về quyền và nghĩa vụ. Thanh niên là tương lai của đất nước, là lực lượng xã hội hùng hậu, có tiềm năng to lớn, xung kích trong công cuộc xây dựng vào bảo vệ Tổ quốc[16, tr. * Thanh niên nông thôn: Từ một số khái niệm về thanh niên, xét từ những nét đặc trưng của vùng nông thôn, có thể khái quát chung: Thanh niên nông thôn (TNNT) là những thanh niên sinh ra, lớn lên và sinh sống chủ yếu ở nông thôn, trong độ tuổi lao động từ 16 - 30, có khả năng làm việc, đang làm việc hoặc chưa có việc làm nhưng đang tích cực tìm kiếm việc làm trong tất cả các lĩnh vực khác nhau.
Vì Việt Nam là một nước nông nghiệp, đa số dân cư sinh sống ở khu vực nông thôn nên TNNT chiếm tỷ lệ cao trong thanh niên cả nước, là nguồn nhân lực phát triển và thực hiện công nghiệp hóa – hiện đại hóa (CNH – HĐH) nông nghiệp, nông thôn. Là lực lượng quan trọng trong sản xuất nông nghiệp, tích cực tham gia phát triển kinh tế xã hội. Tỷ lệ TNNT có trình độ văn hoá và chuyên môn thường thấp hơn so với thanh niên thành thị. Lao động nông thôn (LĐNT) nói chung mà đặc biệt là thanh niên nói riêng chủ yếu học nghề thông qua việc hướng dẫn của thế hệ trước hoặc tự truyền cho nhau nên lao động theo truyền thống và thói quen là chính.
Điều đó làm cho TNNT có tính bảo thủ nhất định, tạo ra sự khó khăn cho việc thay đổi phương hướng sản xuất và thực hiện phân công lao động, hạn chế sự phát triển kinh tế nông thôn. 10 Mặt khác do điều kiện kinh tế và điều kiện tự nhiên ở vùng nông thôn nên việc tiếp cận các thông tin, chương trình đào tạo còn gặp nhiều khó khăn với TNNT, khả năng tiếp cận và tự tìm việc làm, khả năng nắm bắt và xử lý thông tin thị trường lao động còn nhiều hạn chế. Lực lượng TNNT chủ yếu lao động chưa qua đào tạo, việc làm ở khu vực nông thôn thiếu tính ổn định, họ chủ yếu làm việc mang tính thời vụ, thu nhập không ổn định. Do vậy, việc sử dụng lực lượng này trong lao động ở nông thôn kém hiệu quả, hiện tượng thiếu việc làm ổn định là phổ biến.
Tình trạng TNNT chưa qua đào nghề, không đủ việc làm, việc làm không ổn định, thu nhập thấp đã tác động rất lớn đến đời sống của TNNT, ảnh hưởng đến công tác đoàn kết tập hợp TNNT. Lực lượng TNNT đang đứng trước những khó khăn và thách thức như: trình độ học vấn thấp, không có tay nghề, thiếu vốn, thông tin, khả năng tìm việc làm. Thực tế này đặt ra nhiệm vụ quan trọng của các tổ chức liên quan đến thanh niên, quản lý Nhà nước (QLNN) về thanh niên và cả hệ thống chính trị trong việc giải quyết việc làm cho TNNT. Nghề và đào tạo nghề cho thanh niên nông thôn * Nghề: Có nhiều cách tiếp cận và khái niệm khác nhau về nghề: Theo Bách khoa toàn thư khái niệm về nghề được hiểu như sau: Nghề là một việc làm có tính ổn định, đem lại thu nhập để duy trì và phát triển cuộc sống cho mỗi người.
Nghề không đơn giản chỉ để kiếm sống mà còn là con đường để chúng ta thể hiện và khẳng định giá trị của bản thân. Nghề là một lĩnh vực hoạt động lao động mà trong đó, nhờ được đào tạo, con người có được những tri thức, những kỹ năng để làm ra các loại sản phẩm vật chất hay tinh thần nào đó, đáp ứng được những nhu cầu của xã hội. 11 Ở một số nước khác nhau có nhiều cách định nghĩa khác nhau về nghề như: Khái niệm nghề ở Nga được định nghĩa, là một loại hoạt động lao động đòi hỏi có sự đào tạo nhất định và thường là nguồn gốc của sự sinh tồn. Khái niệm nghề ở Pháp, là một loại lao động có thói quen về kỹ năng, kỹ xảo của một người để từ đó tìm được phương tiện sống.
Khái niệm nghề ở Anh được định nghĩa, là công việc chuyên môn đòi hỏi một sự đào tạo trong khoa học học nghệ thuật. Khái niệm nghề ở Đức được định nghĩa, là hoạt động cần thiết cho xã hội ở một lĩnh vực lao động nhất định đòi hỏi phải được đào tạo ở trình độ nào đó. Mặc dù có nhiều khái niệm về nghề được hiểu theo nhiều góc độ khác nhau nhưng chúng ta có thể khái quát và hiểu khái niệm về nghề như sau: “Nghề là một dạng xác định hoạt động trong hệ thống phân công lao động xã hội, nhờ được đào tạo hoặc tự học hỏi và tích lũy kinh nghiện mà con người có được tri thức, kỹ năng để tạo ra các sản phẩm vật chất hoặc tinh thần trên một lĩnh vực cụ thể. Nghề thường được hiểu là một việc làm có tính ổn định, mang lại thu nhập, ổn định cuộc sống và là con đường để mỗi người khẳng định giá trị của bản thân”.
* Đào tạo nghề: Đào tạo nghề (ĐTN) đề cập đến việc dạy các kỹ năng thực hành, nghề nghiệp hay kiến thức liên quan đến một lĩnh vực cụ thể, để người học lĩnh hội và nắm vững những kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp một cách có hệ thống để chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng đảm nhiệm được một công việc nhất định. Có nhiều dạng đào tạo: Đào tạo cơ bản và đào tạo chuyên sâu, đào tạo chuyên môn, đào tạo lại, đào tạo từ xa và tự đào tạo … 12 Có rất nhiều định nghĩa về ĐTN, sau đây xin được nêu một số định nghĩa đó là: Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) định nghĩa: ĐTN là nhằm cung cấp cho người học những kỹ năng cần thiết để thực hiện tất cả các nhiệm vụ liên quan tới công việc, nghề nghiệp được giao.