phần mở đầu và kết luận, đề tài đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận quản lý nhà nƣớc về công nghiệp. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý nhà nƣớc về công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Định hiện nay. Chƣơng 3: Định hƣớng và giải pháp chủ yếu quản lý nhà nƣớc về công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Định trong giai đoạn hiện nay. 9 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ CÔNG NGHIỆP 1.
Một số cơ sở lý luận về công nghiệp 1. Quan niệm về công nghiệp Theo từ đien bách khoa toàn thƣ: “Công nghiệp, là một bộ phận của nền kinh tế, là lĩnh vực sản xuất hàng hóa vật chất mà sản phẩm đƣợc chế tạo và chế biến cho nhu cầu tiêu dùng hoặc phục vụ hoạt động kinh doanh tiếp theo. Đây là hoạt động kinh tế, sản xuất quy mô lớn, đƣợc sự hỗ trợ thúc đẩy mạnh mẽ của các tiến độ công nghệ, khoa hoc và kỹ thuật”. Có nhiều loại công nghiệp, theo mức độ thâm dụng vốn và tập trung lao động có công nghiệp nặng và công nghiệp nhẹ; theo sản phẩm và theo ngành nghề có công nghiệp ô tô, công nghiệp dầu khí, công nghiệp dệt, công nghiệp năng lƣợng,…theo phân cấp quản lý có công nghiệp trung ƣơng, công nghiệp địa phƣơng… Nhƣ vậy, công nghiệp là toàn the những hoạt động kinh tế nhằm khai thác các tài nguyên, các nguồn năng lƣợng và chuyen biến các nguyên nhân gốc động vật, hoặc thực vật hay khoáng vật thành sản phẩm, công nghiệp là hoạt động kinh tế quy mô lớn, mà sản phẩm có the là phi vật the tạo ra trở thành hàng hóa.[7] Trong nền kinh tế, bieu hiện của công nghiệp là quy mô, cơ cấu, trình độ, chất lƣợng và đóng góp của công nghiệp vào phát trien kinh tế - xã hội.
Phát trien công nghiệp còn bao hàm sự thay đổi về chất của ngành công nghiệp theo hƣớng tiến bộ, từ thủ công sang tự động hóa, từ trình độ thấp sang trình độ cao. Việc nâng cao cả về lƣợng và chất ngành công nghiệp the hiện trên những khía cạnh sau: số lƣợng, quy mô cơ sở sản xuất công nghiệp 1 tăng lên, doanh nghiệp hoạt động hiệu quả, đồng thời thu hút thêm nhiều doanh nghiệp mới, nâng cao giá trị hàng hóa của các cơ sở công nghiệp; trình độ khoa hoc công nghệ, trình độ quản lý các cơ sở công nghiệp đƣợc nâng cao, the hiện qua quá trình đầu tƣ, phát trien công nghệ, nghiên cứu, trien khai các sản phẩm mới, công nghệ sản xuất mới, đào tạo nâng cao trình độ; hiệu quả sản xuất tăng lên the hiện ở các chỉ tiêu nhƣ doanh thu, lợi nhuận, sức cạnh tranh của doanh nghiệp đƣợc cải thiện; có nhiều chủ the tham gia vào quản lý công nghiệp trên địa bàn tỉnh, trong đó có các chủ the chính sau: các doanh nghiệp; chính phủ; chính quyền tỉnh. Trong phạm vi nghiên cứu này, công nghiệp đƣợc nghiên cứu dƣới góc độ chuyên ngành quản lý kinh tế, nhấn mạnhvai trò của công nghiệp và sự quản lý nhà nƣớctrong phát trien ngành công nghiệp. Vai trò công nghiệp trong nền kinh tế Ngành công nghiệp có một số vai trò nhƣ sau: - Công nghiệp là một bộ phận hợp thành cơ cấu công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ, do những đặc điem vốn có của nó.
Trong quá trình phát trien nền kinh tế lên sản xuất lớn, công nghiệp phát trien từ vị trí thứ yếu trở thành ngành có vị trí hàng đầu và dẫn dắt các ngành kinh tế khác trong nền kinh tế quốc dân. Nhờ đó thúc đẩy nền kinh tế phát trien toàn diện, phát huy, khai thác đầy đủ moi tiềm năng thế mạnh về các nguồn lực của đất nƣớc, đẩy mạnh hội nhập quốc tế. - Công nghiệp là ngành khai thác tài nguyên và tiếp tục chế biến các loại khoáng sản, động thực vật thành các sản phẩm trung gian và sản xuất ra các sản phẩm cuối cùng ngày càng phát trien, mở rộng đe thỏa mãn nhu cầu vật chất và tinh thần ngày càng tăng của con ngƣời cả trong và ngoài nƣớc. Sản phẩm công nghiệp ngày càng góp phần nâng cao chất lƣợng cuộc sống toàn diện cả về đời sống vật chất và tinh thần.
1 - Sự phát trien của công nghiệp là yếu tố có tính quyết định thực hiện quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc. Vai trò chủ đạo của công nghiệp trong quá trình phát trien nền kinh tế lên nền sản xuất lớn là tất yếu khách quan, xuất phát từ bản chất, đặc điem vốn có của công nghiệp. Công nghiệp có vai trò chủ đạo trong quá trình phát trien nền kinh tế Việt Nam theo định hƣớng xã hội chủ nghĩa bởi trong quá trình phát trien nền kinh tế, công nghiệp là ngành có khả năng tạo ra động lực là định hƣớng sự phát trien của nền kinh tế khác lên nền sản xuất lớn. Đặc điểm của công nghiệp Quá trình sản xuất xã hội là sự tổng hợp của hai mặt: mặt kỹ thuật của sản xuất và mặt kinh tế - xã hội của sản xuất.
Do sự phát trien của phân công lao động xã hội, các ngành sản xuất vật chất đƣợc chia thành nhiều ngành kinh tế nhƣ công nghiệp, nông nghiệp, lâm nghiệp, ngƣ nghiệp, xây dựng. Song, xét trên phƣơng diện sự khác biệt về công nghệ sản xuất, công nghiệp và nông nghiệp đƣợc coi là hai ngành lớn có tính chất đại diện, còn các ngành kinh tế khác chỉ là những dạng đặc thù của hai ngành này. Ngành công nghiệp có những đặc điem sau: - Về công nghệ sản xuấtvàsự biến đổi của đối tượng lao động sau mỗi chu kỳ sản xuất Sản xuất công nghiệp chủ yếu sử dụng các phƣơng pháp cơ hoc, lý hoc, hoá hoc và quá trình sinh hoc làm thay đổi hình dáng, kích thƣớc và tính chất của nguyên liệu đe tạo ra các sản phẩm phục vụ sản xuất hoặc sinh hoạt. Đặc biệt sau mỗi giai đoạn của quá trình công nghệ, các đối tƣợng lao động - nguyên liệu của công nghiệp có sự thay đổi về hình dáng, kích thƣớc, tính chất.
Trong sản xuất công nghiệp, từ một loại nguyên liệu có the tạo ra nhiều loại sản phẩm có giá trị sử dụng khác nhau. Từ đặc điem này của sản xuất công nghiệp, cho thấy khả năng của sản 1 xuất công nghiệp, ý nghĩa thiết thực với việc tổ chức sản xuất và tổ chức lao động và ứng dụng các thành tựu mới của khoa hoc công nghệ thích ứng với mỗi ngành trong công nghiệp. - Mức độ ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên đến sản xuất và công dụng của sản phẩm công nghiệp Có the nói, công nghiệp luôn chịu tác động của tự nhiên trong quá trình sản xuất công nghiệp, tuy nhiên các ngành khác nhau chịu ảnh hƣởng với những mức độ khác nhau: các ngành công nghiệp khai thác chịu ảnh hƣởng của điều kiện tự nhiên với mức độ lớn hơn các ngành công nghiệp chế biến. Với sự phát trien khoa hoc công nghệ, sản xuất công nghiệp có the phát trien mạnh ngay cả khi điều kiện tự nhiên không thuận lợi.
Đặc điem này cho thấy công nghiệp có khả năng sản xuất cao hơn nông nghiệp và các ngành kinh tế khác và khẳng định vai trò chủ đạo của công nghiệp trong nền kinh tế. Về mặt sản phẩm, nếu nhƣ sản phẩm nông nghiệp chủ yếu đáp ứng nhu cầu ăn uống của con ngƣời và dùng làm nguyên liệu cho một số ngành công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, thì sản phẩm công nghiệp có khả năng đáp ứng hầu hết moi nhu cầu của sản xuất và đời sống. Công nghiệp là ngành kinh tế có vai trò sản xuất các loại tƣ liệu lao động, từ những công cụ thủ công đơn giản, đến hệ thống máy móc hiện đại. Do vậy, sự phát trien của ngành công nghiệp có tác động trực tiếp và to lớn đến quá trình hiện đại hoá nền kinh tế, phát trien sản xuất và nâng cao mức sống của dân cƣ.
- Trình độ xã hội hóa trong sản xuất và nhu cầu nguồn lao động của ngành công nghiệp Có the nói, công nghiệp là ngành có trình độ xã hội hoá cao. Một sản phẩm công nghiệp làm ra thƣờng kết tinh lao động của nhiều đơn vị khác nhau, có the cùng trong một tổ chức, hoặc những tổ chức khác nhau đƣợc phân bố ở những địa điem khác nhau, thậm chí ở các nƣớc khác nhau. 1 Sự liên kết từ khâu nghiên cứu thiết kế sản phẩm, đến khâu tiêu thụ sản phẩm và thực hiện những dịch vụ sau bán hàng tạo thành chuổi liên kết chặt chẽ với nhau. Quan hệ liên kết này không chỉ đƣợc thực hiện giữa các doanh nghiệp trong cùng một ngành, mà còn đƣợc thực hiện giữa các ngành khác nhau, không chỉ giữa các doanh nghiệp trong phạm vi một nƣớc, mà còn ở phạm vi giữa các nƣớc.
Trong khi đó, sản xuất nông nghiệp ngày nay cũng đạt tới trình độ xã hội hoá nhất định, nhƣng ở trình độ thấp hơn nhiều so với công nghiệp. Các khâu của quá trình sản xuất thực hiện ở phạm vi hẹp, thậm chí chỉ ở phạm vi hộ nông dân. Sự phát trien công nghiệp kéo theo sự phát trien đội ngũ lao động côngnghiệp. Do những đặc trƣng về kỹ thuật sản xuất, công nghiệp đại diện cho phƣơng thức sản xuất mới, lao động công nghiệp có tƣ duy, tác phong và kỷ luật cao, nhanh nhạy với sự thay đổi của môi trƣờng và có những đổi mới mang tính cách mạng.
Sự phát trien, mở rộng quy mô và nâng cao trình độ phát trien công nghiệp, dẫn đến sự phát trien đội ngũ lao động công nghiệp cả về mặt số lƣợng và chất lƣợng. Trong khi đó, lao động trong sản xuất nông nghiệp thƣờng phân tán, trình độ kỹ thuật, chất lƣợng lao động thấp hơn, sự đổi mới và khả năng thích ứng với cái mới chậm hơn so với lao động công nghiệp. Hơn nữa, tƣơng ứng với sự thay đổi vị trí các ngành trong cơ cấu kinh tế, tỷ trong lao động nông nghiệp trong cơ cấu lao động xã hội ngày càng giảm so với lao động công nghiệp. - Vềnhu cầuquản lý trong ngành công nghiệp Do trình độ kỹ thuật sản xuất ngày càng hiện đại, trình độ xã hội hoá sản xuất ngày cao, phân công lao động xã hội ngày càng sâu sắc, nhu cầu quản lý quá trình sản xuất công nghiệp là tất yếu và yêu cầu đƣợc thực hiện hết sức chặt chẽ, khoa hoc.
Đây là điều kiện đe bảo đảm quá trình sản xuất dien ra liên tục với hiệu quả kinh tế cao.