CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ ĐẤT ĐAI VÀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài Vấn đề cấp GCNQSD đất tuy không mới, nhưng vẫn là vấn đề có tính thời sự nóng bỏng hiện nay. Đã có nhiều đề tài, các luận án, luận văn, các bài báo nghiên cứu về vấn đề này, trong đó, những công trình liên quan trực tiếp đến đề tài có thể kể đến là : - Tài liệu tham khảo: “Quản lý nhà nước về đất đai” (Nguyễn Khắc Thái Sơn - Năm 2007).
Trong công trình này, các tác giả nêu lên một số vấn đề lý luận về quản lý nhà nước về đất đai và bộ máy quản lý nhà nước về đất đai. Tác giả đã làm rõ cơ sở pháp lý về hoạt động quản lý đất đai, như: một số quy định về lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; một số quy định về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; quản lý việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ; thống kê, kiểm kê đất đai; quản lý giám sát việc thực hiện quyền của người sử dụng đất; thanh tra kiểm tra việc chấp hành các quy định của Pháp luật về đất đai; giải quyết tranh chấp đất đai. -“Nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước về đất đai” của Tiến sỹ Phạm Việt Dũng, đăng trên Tạp chí Cộng sản điện tử, ngày 11 tháng 2 năm 2013. Tác giả đã nêu ra được một số kết quả trong quản lý đất đai những năm qua đồng thời nêu lên được những hạn chế, bất cập trong quản lý nhà nước về lĩnh vực này.Từ đó đưa ra một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về đất đai.
- “Hệ thống đăng ký đất đai theo pháp luật đất đai Việt Nam và Thụy Điển”, luận văn Tiến Sỹ của Nguyễn Anh Quân, năm 2012. Luận án đã đánh giá tổng quan về hệ thống đăng ký đất đai ở Việt Nam, nhận thức những vấn 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đề không thể thiếu khi xây dựng hệ thống đăng ký. Đồng thời tìm hiểu bài học và học tập những kinh nghiệm của đất nước Thụy Điển, đất nước được đánh giá là thành công trong việc đưa hệ thống đăng ký của mình trở thành hệ thống đăng ký hiện đại và hoạt động hiệu quả trên thế giới cho việc xây dựng hệ thống đăng ký đất đai ở Việt Nam. - “Quản lý nhà nước về cấp giấy chứng nhận QSDĐ tại huyện Diễn Châu tỉnh Nghệ An”, luận văn thạc sỹ của Phan Thị Thanh Tâm, trường Đại học Quốc gia Hà Nội, thực hiện năm 2012.
Luận văn đã làm rõ cơ sở lý luận và những căn cứ pháp lý của quản lý nhà nước về đất đai nói chung và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nói riêng. Thông qua việc nghiên cứu luận văn đã phân tích, đánh giá công tác đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, rút ra những ưu điểm và tồn tại, những nguyên nhân và các tác động của nó đến quá trình phát triển kinh tế xã hội, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại huyện Diễn Châu trong những năm tới. - “Thực trạng hoạt động của Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An”, luận văn thạc sỹ của Nguyễn Xuân Dũng, trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội, thực hiện năm 2012. Luận văn đã làm rõ cơ sở lý luận về sự cần thiết của việc đăng ký đất đai và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Luận văn đã phân tích, đánh giá hoạt động của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thành phố Vinh, thực trạng cấp giấy chứng nhận QSDĐ và đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất thành phố Vinh. - “Đánh giá thực trạng cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên địa bàn thành phố Hưng Yên – tỉnh Hưng Yên”,Luận văn thạc sỹ của Đào Thị Thuý Mai, Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội, thực hiện năm 2012. Luận văn đã làm rõ hơn cơ sở lý luận và căn cứ pháp lý của công tác cấp giấy 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chứng nhận quyền sử dụng đất, tình hình đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của một số nước trên thế giới. Tác giả đã đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý Nhà nước về đất đai thông qua kết quả đánh giá thực trạng cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Xác định những thuận lợi và khó khăn của công tác này trên địa bàn thành phố Hưng Yên. - “Hoàn thiện công tác Quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định”, Luận văn thạc sỹ của Ngô Tôn Thanh, Trường Đại học Đà Nẵng, thực hiện năm 2012. Luận văn đã làm rõ cơ sở lý luận về quản lý nhà nước về đất đai, đánh giá công tác quản lý nhà nước về đất đai trong giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội, đô thị hóa của thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định về những mặt tích cực và những tồn tại, từ đó đưa ra những biện pháp khắc phục phù hợp nhằm khai thác nguồn lực đất đai hiệu quả hơn. Nhìn chung, các công trình trên đã có những cách tiếp cận khác nhau hoặc trực tiếp, hoặc gián tiếp đến vấn đề cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong những năm gần đây.
Đó là nguồn tài liệu đáng quý giúp tôi có được những số liêụ và thông tin cần thiết để kế thừa và phát triển trong luận văn của mình. Tuy nhiên, trong số các công trình đã xuất bản chưa có công trình nào nghiên cứu về thực trạng, vướng mắc nảy sinh trong quản lý nhà nước về chứng nhận quyền sử dụng đất trên địa bàn thành phố Vinh với tư cách là luận văn thạc sỹ quản lý kinh tế. Đây chính là khoảng trống và là vấn đề cần thiết đặt ra để giúp UBND thành phố Vinh có cái nhìn tổng quát lại sau 6 năm thực hiện việc cấp GCN theo quy định của Luật Đất đai - kể từ thời điểm thành phố Vinh ổn định địa giới hành chính đến lúc Chính phủ ban hành Luật Đất đai sửa đổi 2013.Trong luận văn này, tác giả sẽ cố gắng nghiên cứu vấn đề trên một cách cơ bản và hệ thống. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Một số vấn đề cơ bản về đất đai và Quản lý nhà nước về chứng nhận quyền sử dụng đất 1. Các vấn đề về đất đai và vai trò của đất đai trong đời sống kinh tế xã hội 1. Khái niệm về đất đai Đất đai là sản phẩm thiên nhiên ban tặng cho con người. Đất đai có nguồn gốc tự nhiên nhưng qua bàn tay của con người đất đai được cải tạo và trở thành sản phẩm của người lao động.
Đặc điểm của đất đai Thứ nhất, đất đai có tính cố định vị trí, không thể di chuyển được, tính cố định vị trí quyết địnhtính giới hạn về quy mô theo không gian và chịu sự chi phối của các yếu tố môi trường nơi có đất. Mặt khác, đất đai không giống các hàng hóa khác có thể sản sinh qua quá trình sản xuất do đó, đất đai là có hạn.Tuy nhiên, giá trị của đất đai ở các vị trí khác nhau lại không giống nhau. Đất đai ở đô thị có giá trị lớn hơn ở nông thôn và vùng sâu,vùng xa; đất đai ở những nơi tạo ra nguồn lợi lớn hơn, các điều kiện cơ sở hạ tầng hoàn thiện hơn sẽ có giá trị lớn hơn những đất đai có điều kiện kém hơn. Chính vì vậy, khi vị trí đất đai, điều kiện đất đai từ chỗ kém thuận lợi nếu các điều kiện xung quanh nó trở nên tốt hơn thì đất đó có giá trị hơn.
Vị trí đất đai hoặc điều kiện đất đai không chỉ tác động đến việc sản xuất, kinh doanh tạo nên lợi thế thương mại cho một công ty, một doanh nghiệp mà nó còn có ý nghĩa đối với một quốc gia. Chẳng hạn, Việt Nam là cửa ngõ của khu vực Đông Nam Á, chúng ta có biển, có các cảng nước sâu thuận lợi cho giao thông đường biển, cho buôn bán với các nước trong khu vực và trên thế giới, điều mà nước bạn Lào không thể có được. Thứ hai, đất đai là một tài sản không hao mòn theo thời gian và giá trị đất đai luôn có xu hướng tăng lên theo thời gian. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thứ ba,đất đai có tính đa dạng và phong phú tùy thuộc vào mục đích sử dụng đất.
Tại Việt nam, theo Luật Đất đai năm 2013, đất đai nước ta được chia là 3 nhóm: - Nhóm đất nông nghiệp: đất trồng cây hàng năm gồm đất trồng lúa và đất trồng cây hàng năm khác; đất trồng cây lâu năm; đất rừng sản xuất; đất rừng phòng hộ; đất rừng đặc dụng; đất nuôi trồng thủy sản; đất làm muối; đất nông nghiệp khác gồm: đất sử dụng để xây dựng nhà kính và các loại nhà khác phục vụ mục đích trồng trọt; đất trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản cho mục đích học tập, nghiên cứu thí nghiệm; đất ươm tạo cây giống, con giống và đất trồng hoa, cây cảnh. - Nhóm đất phi nông nghiệp gồm: đất ở (gồm đất ở tại nông thôn và đất ở tại đô thị), đất chuyên dùng (gồm đất xây dựng trụ sở cơ quan, xây dựng công trình sự nghiệp, đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp, đất sử dụng vào mục đích công cộng), đất tôn giáo tín ngưỡng, đất nghĩa trang nghĩa địa, đất sông ngòi, kênh rạch, suối và mặt nước, đất phi nông nghiệp khác. - Nhóm đất chưa sử dụng gồm: các loại đất chưa xác định mục đích sử dụng. Sự phân loại đất đai như trên chỉ là tương đối vì mỗi loại đất lại có thể có nhiều mục đích sử dụng khác nhau.
Tức là, người ta có thể chuyển đổi mục đích sử dụng đất từ mục đích sử dụng tạo khả năng sinh lời thấp sang mục đích sử dụng khác tạo khả năng sinh lời cao hơn. Đặc điểm này của đất đai đặt ra yêu cầu đối với người sử dụng đất là phải khai thác triệt để lợi thế của mỗi loại đất và sử dụng nó một cách tiết kiệm và hiệu quả nhất.