CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI QUỸ TÍN DỤNG NHÂN DÂN 1. Tổng quan về Quỹ tín dụng nhân dân: 1.1 Nguồn gốc ra đời của Quỹ tín dụng nhân dân: Xã hội loài người đã trải qua 5 hình thái kinh tế - xã hội. Khi chuyển từ nền kinh tế tự cung tự cấp sang nền kinh tế hàng hóa cũng là lúc trong xã hội, sự phân công lao động và chuyên môn hóa bắt đầu được hình thành. Đây cũng là thời điểm con người dần được giải phóng khỏi chế độ nô lệ và được tự do hành nghề, tự do kinh doanh sản xuất.
Tuy nhiên, khi sự phân công lao động trong xã hội ngày càng rõ nét, thì việc kinh doanh sản xuất cũng có khoảng cách rõ rệt giữa những người làm ăn được và những người làm ăn thua lỗ. Những người làm ăn thua lỗ có thể do rất nhiều nguyên nhân: thiếu kinh nghiệm, thiếu vốn,. và nhiều người đã phải rơi vào tình trạng đi vay nặng lãi, phá sản. Để thoát khỏi thực trạng nghèo khó, khốn khổ, tưởng chừng như không có lối thoát đó, những người này đã đoàn kết lại và hợp tác với nhau tạo ra sức mạnh chung lớn hơn.
Chính việc nhóm những người có cùng cảnh ngộ, muốn cùng thực hiện một công việc chung nhất định nào đó vì chính những lợi ích, quyền lợi của họ hình thành nên các tổ, nhóm hợp tác. Các nhóm tín dụng hợp tác (TDHT) theo đó đã ra đời, giúp cho các thành viên tiếp cận được với đồng vốn để thực hiện các hoạt động đầu tư, mua bán, sản xuất, kinh doanh hay tiêu dùng của họ. Khi từng thành viên đứng riêng lẻ, họ không thể tiếp cận hay tiếp cận một cách không thỏa đáng với nguồn vốn, do uy tín và khả năng vay vốn hạn chế của họ cũng như sự cung cấp tín dụng chưa nhiệt tình hoặc không nhiệt tình, đầy đủ của hệ thống các TCTD hoạt động chính thức. Các nhóm TDHT này do đặc điểm nổi bật là tự hình thành do sự tự nguyện, tự phát nên có thể có từ 5-7 thành viên, cũng có thể có tới hàng chục thành viên với các tên gọi khác nhau như: nhóm tín dụng, hội tiết kiệm, hội cho vay, hội tiết kiệm và cho vay, hội tạm ứng, hội tín dụng và tạm ứng.
5 Đó là hình thức sơ khai của các nhóm TDHT. Hình thức này còn được gọi là chơi hụi, chơi tổ. Thời kỳ này, các thành viên trong nhóm sẽ cùng nhau góp vốn tạo thành một khoản lớn và có thể cho các thành viên có nhu cầu vay vốn vay. Ban đầu, các nhóm này huy động vốn từ chính trong nội bộ các thành viên của mình để cho vay lẫn nhau nhằm đáp ứng nhu cầu về vốn một cách nhanh chóng, thuận tiện với giá cả hợp lý.
Sau này, các hoạt động và hình thức huy động, góp vốn, cho vay được mở rộng, phát triển hơn cả về hình thức, quy mô, số lượng, địa bàn. và ngày càng trở nên đa dạng, phong phú. Chẳng hạn nhóm TDHT cũng có thể huy động vốn ở ngoài thành viên, cho vay ngoài thành viên, đứng ra bảo lãnh cho thành viên, thực hiện dịch vụ chi trả hộ giúp cho thành viên. Khi số lượng thành viên nhiều hơn, quy mô, địa bàn hoạt động, đối tượng phục vụ lớn hơn, các nhóm TDHT trở thành các nhóm hoạt động có tổ chức hơn với bộ máy quản lý lớn hơn, chặt chẽ hơn với số lượng thành viên lên tới hành trăm, hàng nghìn thành viên.
Các nhóm TDHT tự phát như vậy ra đời đã giúp các thành viên giải quyết được một khó khăn lớn của họ là tiếp cận với vốn vay để đầu tư, sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng ., đẩy lùi thị trường tín dụng đen với lãi suất cho vay “cắt cổ”. Kèm theo đó, các nhóm này cũng huy động vốn, đặc biệt là huy động từ các thành viên và trả lãi cho họ, do đó đã khuyến khích họ tích lũy tài sản, dần dần thoát khỏi cảnh nghèo đói. Như vậy, sự ra đời của các nhóm TDHT đã hỗ trợ rất nhiều cho các thành viên – chủ yếu là các hộ gia đình nghèo ở nông thôn, hỗ trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của họ, và qua đó cũng đã hỗ trợ cho sự phát triển của kinh tế địa phương nói chung, góp phần tạo công ăn việc làm, ổn định an ninh chính trị và trật tự xã hội, phát huy nội lực tại chỗ cho tăng trưởng kinh tế. Đây chính là nguồn gốc ra đời của QTDND.2 Sự hình thành và phát triển của Quỹ tín dụng nhân dân: 1.1 Trên thế giới: Sự ra đời của các nhóm TDHT mang lại nhiều lợi ích to lớn.
Song bên cạnh những lợi ích mà nó đem lại, các nhóm TDHT cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro trong quá trình hoạt động. Khi các nhóm này huy động vốn (cả trong và ngoài thành viên), có 6 thể phát sinh rủi ro không hoàn trả được tiền gửi của người dân trong trường hợp nhóm hoạt động bị thua lỗ, phá sản. Do đó, cần phải có sự quản lý, giám sát chặt chẽ của các cơ quan nhà nước để hoạt động của các nhóm này lành mạnh, an toàn và phát triển hơn. Ngày nay, nhiều nước trên thế giới đã có những định hướng rõ ràng đối với sự tồn tại và phát triển của các nhóm TDHT; Việc làm đầu tiên là đưa các nhóm này ra hoạt động công khai, chính thức như các TCTD, tham gia vào thị trường tiền tệ, tín dụng, ngân hàng.
Theo thống kê của Liên minh Hợp tác xã (HTX) quốc tế, các nhóm TDHT xuất hiện ở trên 150 quốc gia và đã chính thức trở thành các tổ chức TDHT ở trên 100 quốc gia. Tại mỗi quốc gia, các tổ chức TDHT này đều tồn tại ở những mô hình đặc thù khác nhau với những tên gọi khác nhau tùy theo bối cảnh ra đời, điều kiện kinh tế xã hội ở mỗi nước. Ở Đức, các tổ chức TDHT được gọi chung là các Ngân hàng hợp tác xã (NH HTX), trong đó ở vùng đô thị gọi là các NH nhân dân, còn ở nông thôn là các NH Raiffeisen; Ở Philipin là các HTX tín dụng; Ở Canada là QTD Dejardins; Ở Việt Nam là các QTDND. Các tổ chức này về cơ bản giống nhau về nguồn gốc hình thành, nguyên tắc, cơ cấu tổ chức và hoạt động, tuy nhiên, mỗi loại hình ở các nước lại có những đặc thù riêng gắn với những đặc điểm kinh tế, chính trị, xã hội ở từng quốc gia đó.
Tại các nước có lịch sử phát triển lâu đời, các tổ chức TDHT đã phát triển thành một hệ thống các tổ chức TDHT có mặt ở khắp mọi nơi từ nông thôn đến đô thị để cung cấp các dịch vụ ngân hàng và các dịch vụ khác cho thành viên và người dân. Có thể nói, sự phát triển của các tổ chức TDHT là một sự phát triển từ từ, có tiến trình, từ nhỏ đến lớn, từ đơn giản đến đồ sộ, phức tạp, từ tổ chức cá lẻ đến hệ thống liên kết hoàn chỉnh. Trong quá trình phát triển đó, Nhà nước của các quốc gia này cũng đóng góp một phần đáng kể để vun đắp và nâng đỡ cho hệ thống các tổ chức TDHT phát triển. Chính nhờ vậy mà các tổ chức TDHT đã có điều kiện phát huy tiềm năng và đóng góp đáng kể vào sự phát triển của nền kinh tế các nước đó.
Ở Việt Nam Năm 1986 là một bước ngoặt đánh dấu sự khởi đầu quan trọng của nền kinh tế đất nước khi chuyển mình từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đây cũng là sự khởi đầu của nền kinh tế hàng hóa cùng với sự xóa bỏ của cơ chế quản lý cũ và những mệnh lệnh kinh tế từ trên xuống dýới. Cùng với cõ chế quản lý mới này, người dân được tự do hơn trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Nhu cầu vốn theo đó cũng tăng lên.
Ở Việt Nam lúc đó có 30 ngân hàng cổ phần nông thôn, ngoài ra có 20 ngân hàng thương mại cổ phần lớn khác chỉ có mặt chủ yếu tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Với một số lượng hạn chế, các ngân hàng thương mại lúc đó chỉ đáp ứng được khoảng 5% nhu cầu vay vốn của người dân và chỉ có 28,6% các hộ đi vay có thể tiếp cận được với nguồn vốn vay từ ngân hàng nên không thể đáp ứng được nhu cầu vốn của người dân. Hơn nữa, nước ta là một nước đi lên từ nông nghiệp với hơn 70% dân số sống ở vùng nông thôn, do đó, sự thiếu hiện diện của các TCTD tại nông thôn là một thiếu sót lớn trong sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước. Chính vì thế, ngay từ những ngày đầu của thời kỳ đổi mới, Đảng và Chính phủ Việt Nam đã dành nhiều sự quan tâm trong chỉ đạo, điều hành và hoạch định các cơ chế, chính sách về nông nghiệp và phát triển nông thôn mà đỉnh cao của sự quan tâm này là Quyết định số 390/QĐ-TTg ngày 27/7/1993 của Thủ tướng Chính phủ thành lập mô hình QTDND.
Chủ trương thí điểm thành lập mô hình QTDND được Ban Bí thư Trung ương Đảng thực hiện từ giữa năm 1993, sau Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm của Ban chấp hành Trung ương khoá VII về tiếp tục đổi mới, phát triển kinh tế - xã hội nông nghiệp, nông thôn. Khi bắt đầu thí điểm mô hình này, QTDND đã được xác định cụ thể là loại hình TCTD hợp tác hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động, thực hiện mục tiêu chủ yếu là tương trợ giữa các thành viên, nhằm phát huy sức mạnh của tập thể và của từng thành viên giúp nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và cải thiện đời sống. Hoạt động của QTDND phải bảo đảm bù đắp chi phí và có tích lũy để phát triển. 8 Nghị quyết Đại hội Đại biểu lần thứ VIII của Đảng đã chỉ rõ: "Tổ chức tốt hệ thống QTDND, quản lý chặt chẽ hoạt động của các Ngân hàng Thương mại và các chi nhánh Ngân hàng nước ngoài.
Có biện pháp đồng bộ để giảm dần lãi suất, tạo điều kiện cho đầu tư phát triển" (Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII - Mục Tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý kinh tế).