Chương 1. Cơ sở khoa học quản lý nhà nước đối với cơ sở hành nghề y tư nhân. Thực trạng quản lý nhà nước đối với cơ sở hành nghề y tư nhân trên địa bàn thành phố Hà Nội. Quan điểm và giải pháp tăng cường quản lý nhà nước đối với cơ sở hành nghề y tư nhân trên địa bàn thành phố Hà Nội.
6 Chƣơng 1 CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI CƠ SỞ HÀNH NGHỀ Y TƢ NHÂN 1. Các khái niệm cơ bản 1. Hành nghề y tư nhân Hệ thống y tế ở Việt Nam gồm hệ thống y tế công lập và hệ thống y tế ngoài công lập. Trong hệ thống y tế ngoài công lập có nhiều loại hình hoạt động như các cơ sở y tế tư nhân, cơ sở y tế có yếu tố nước ngoài, tuy nhiên các cơ sở hành nghề y tư nhân gần đây phát triển nhiều nhất.
Hành nghề y bao gồm hoạt động khám bệnh, chữa bệnh tại các cơ sở y tế công lập và cơ sở y tế tư nhân. Khám bệnh là việc hỏi bệnh, khai thác tiền sử bệnh, thăm khám thực thể, khi cần thiết thì chỉ định làm xét nghiệm cận lâm sàng, thăm dò chức năng để chẩn đoán và chỉ định phương pháp điều trị phù hợp đã được công nhận. Chữa bệnh là việc sử dụng phương pháp chuyên môn kỹ thuật đã được công nhận và thuốc đã được phép lưu hành để cấp cứu, điều trị, chăm sóc, phục hồi chức năng cho người bệnh. Hành nghề y tư nhân bao gồm hoạt động của các chủ thể cung cấp các dịch vụ về sức khỏe ngoài quyền sở hữu của Nhà nước.
Họ có thể hoạt động vì mục đích lợi nhuận hoặc phi lợi nhuận, cung cấp các loại dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh. Hành nghề y tư nhân bao gồm: - Hành nghề y; - Hành nghề y học cổ truyền; - Hành nghề vắc xin, sinh phẩm y tế; - Hành nghề trang thiết bị y tế. Như vậy, hành nghề y tư nhân là việc cá nhân hoặc tổ chức đăng ký để thực hiện khám bệnh, chữa bệnh; kinh doanh vắc xin, sinh phẩm y tế, trang thiết 7 bị y tế theo quy định của Luật khám bệnh, chữa bệnh và các quy định khác của pháp luật có liên quan. Để được hành nghề theo đúng quy định của Luật khám bệnh, chữa bệnh thì cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phải được cấp giấy phép hoạt động (GPHĐ).
Giấy phép hoạt động khám bệnh, chữa bệnh là văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có đủ điều kiện hoạt động theo quy định của Luật khám bệnh, chữa bệnh. [24] Giấy phép hoạt động được Bộ trưởng Bộ Y tế cấp, cấp lại, điều chỉnh và thu hồi đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thuộc Bộ Y tế, bệnh viện tư nhân hoặc Giám đốc Sở Y tế cấp, cấp lại, điều chỉnh và thu hồi GPHĐ đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trên địa bàn. Cơ sở hành nghề không có GPHĐ thì được coi là hành nghề “chui”. Luật pháp quy định, mọi cá nhân, tổ chức khi có đầy đủ các điều kiện về chuyên môn, cơ sở vật chất, trang thiết bị, nhân lực đều được phép thành lập cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.
Người hành nghề làm việc tại các cơ sở hành nghề phải có đủ các điều kiện về văn bằng chuyên môn và đáp ứng điều kiện về thời gian thực hành liên tục tại các cơ sở y tế. Khi có đầy đủ các điều kiện trên thì họ được đề nghị cấp chứng chỉ hành nghề (CCHN) khám bệnh, chữa bệnh. Chứng chỉ hành nghề khám bệnh, chữa bệnh là văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho người có đủ điều kiện hành nghề theo quy định của Luật khám bệnh, chữa bệnh. [24] Sự hình thành và phát triển của hệ thống y tế tư nhân đã góp phần quan trọng trong việc nâng cao chất lượng KCB cho người dân, tăng khả năng tiếp cận dịch vụ y tế của người dân, bớt đi gánh nặng cho hệ thống y tế công và giảm bớt áp lực tài chính cho y tế của Nhà nước.
Cơ sở hành nghề y tư nhân Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh là cơ sở cố định hoặc lưu động đã được cấp GPHĐ và cung cấp dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh. [24] 8 Cơ sở hành nghề y tư nhân là cơ sở y tế do cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp đăng ký kinh doanh và quản lý, điều hành. Các cơ sở hành nghề y tư nhân bao gồm: bệnh viện đa khoa, bệnh viện chuyên khoa, phòng khám đa khoa, phòng khám chuyên khoa, phòng chẩn trị y học cổ truyền, nhà hộ sinh, cơ sở dịch vụ y tế, cơ sở dịch vụ vận chuyển người bệnh trong nước và ra nước ngoài và các hình thức dịch vụ y tế khác. [24] Mỗi loại hình cơ sở hành nghề y tư nhân có đặc điểm riêng, có điều kiện cấp GPHĐ riêng, cụ thể như sau: - Bệnh viện đa khoa: Bệnh viện đa khoa là những bệnh viện lớn, có thể xét nghiệm và chữa trị hầu hết các loại chứng bệnh.
Tại đây bác sĩ chuyên khoa mỗi ngành làm việc tại một khu riêng của ngành mình nhưng vẫn có thể liên lạc với những bác sĩ của ngành khác để cộng tác chữa trị công hiệu - nhất là nghiên cứu những bệnh khó chẩn đoán hay chữa trị. Các bệnh viện đa khoa thường có phòng cấp cứu, phòng xét nghiệm máu và quang tuyến, và phòng điều trị tăng cường. - Bệnh viện chuyên khoa: Bệnh viện chuyên khoa là bệnh viện được thành lập chuyên ngành vì nhu cầu điều trị đặc biệt. Ví dụ như Bệnh viện nhi khoa, Bệnh viện mắt, Bệnh viện lão khoa.
Để được cấp GPHĐ, bệnh viện đa khoa phải có ít nhất là 30 giường bệnh; bệnh viện chuyên khoa, bệnh viện y học cổ truyền phải có ít nhất 20 giường bệnh; riêng đối với bệnh viện chuyên khoa mắt sử dụng kỹ thuật cao phải có ít nhất là 10 giường bệnh. Về cơ sở vật chất, đối với bệnh viện đa khoa, bệnh viện chuyên khoa bảo đảm diện tích sàn xây dựng ít nhất là 50m2/giường bệnh trở lên; chiều rộng mặt trước (mặt tiền) bệnh viện phải đạt ít nhất là 10m. Về tổ chức, có ít nhất 02 trong 04 khoa nội, ngoại, sản, nhi đối với bệnh viện đa khoa hoặc một khoa lâm sàng phù hợp đối với bệnh viện chuyên khoa. 9 Về nhân sự, số lượng người hành nghề làm việc toàn thời gian (cơ hữu) trong từng khoa phải đạt tỷ lệ ít nhất là 50% trên tổng số người hành nghề trong khoa.
Người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của bệnh viện phải là bác sỹ có CCHN có phạm vi hoạt động chuyên môn phù hợp với ít nhất một trong các chuyên khoa mà bệnh viện đăng ký hoạt động; có thời gian khám bệnh, chữa bệnh ít nhất là 54 tháng; là người hành nghề cơ hữu tại bệnh viện. - Phòng khám đa khoa: Phòng khám đa khoa là phòng khám được điều hành bởi một hoặc một số bác sĩ đa khoa hoặc người quản lý hành nghề vật lý trị liệu. Một số phòng khám hoạt động bởi người sử dụng lao động, tổ chức Chính phủ hoặc các bệnh viện và một số dịch vụ lâm sàng bên ngoài của các công ty tư nhân, chuyên cung cấp dịch vụ y tế. Phòng khám đa khoa phải có ít nhất 02 trong 04 chuyên khoa nội, ngoại, sản, nhi; có phòng cấp cứu diện tích ít nhất là 12m2, các phòng khám chuyên khoa và buồng tiểu phẫu (nếu thực hiện tiểu phẫu) có diện tích ít nhất là 10m 2, phòng lưu người bệnh có diện tích ít nhất là 15m2, có ít nhất từ 02 giường lưu trở lên, nếu có từ 03 giường lưu trở lên thì diện tích phải bảo đảm ít nhất là 5m2 trên một giường bệnh thì mới được cấp GPHĐ.
Bên cạnh đó, ngoài người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của phòng khám đa khoa, các đối tượng khác làm việc trong phòng khám đa khoa nếu có thực hiện việc KCB thì phải có CCHN, việc phân công phải phù hợp với phạm vi hoạt động chuyên môn ghi trong CCHN của người đó. - Phòng khám chuyên khoa: Phòng khám chuyên khoa là phòng khám do các bác sĩ chuyên khoa phụ trách, với những chuyên khoa nội tổng hợp, phòng khám chuyên khoa thuộc hệ nội; chuyên khoa ngoại; chuyên khoa phụ sản, kế hoạch hóa gia đình; chuyên khoa răng - hàm - mặt; chuyên khoa mắt; chuyên khoa tai - mũi - họng; chuyên khoa giải phẫu thẩm mỹ; chuyên khoa điều dưỡng, phục hồi chức năng và vật lý 10 trị liệu; chuyên khoa chẩn đoán hình ảnh; phòng khám gia đình, phòng tư vấn y tế; phòng xét nghiệm: sinh hóa, huyết học, vi sinh, giải phẫu bệnh vi thể. Phòng khám chuyên khoa phải có phòng khám bệnh, chữa bệnh có diện tích ít nhất là 10m2 và nơi đón tiếp người bệnh (trừ phòng khám tư vấn sức khỏe hoặc phòng tư vấn sức khỏe qua các phương tiện công nghệ thông tin, viễn thông). Riêng đối với phòng khám chuyên khoa ngoại, phòng khám chuyên khoa thẩm mỹ phải có thêm buồng lưu người bệnh có diện tích ít nhất là 12m 2; phòng khám phục hồi chức năng phải có thêm buồng phục hồi chức năng có diện tích ít nhất là 10m2; phòng khám, điều trị HIV/AIDS phải có diện tích ít nhất là 18m2 (không bao gồm khu vực chờ khám), được chia thành hai buồng thực hiện chức năng khám bệnh và tư vấn cho người bệnh.
- Phòng chẩn trị y học cổ truyền: Phòng chẩn trị y học cổ truyền là cơ sở y tế thực hiện KCB bằng y học cổ truyền, người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của phòng chẩn trị y học cổ truyền phải là bác sỹ chuyên khoa y học cổ truyền hoặc y sỹ chuyên khoa y học cổ truyền hoặc là người có giấy chứng nhận lương y của Bộ Y tế hoặc Sở Y tế tỉnh cấp hoặc người có bài thuốc gia truyền hoặc có phương pháp chữa bệnh gia truyền có CCHN khám bệnh, chữa bệnh y học cổ truyền. Phòng chẩn trị y học cổ truyền phải có diện tích ít nhất 10m2 và có nơi đón tiếp người bệnh thì mới đủ điều kiện được cấp GPHĐ. Trường hợp có châm cứu, xoa bóp day ấn huyệt thì phải có buồng hoặc bố trí nơi kê giường châm cứu, xoa bóp day ấn huyệt có diện tích ít nhất là 5m2 một giường bệnh. Trường hợp có xông hơi thuốc thì phải có buồng xông hơi có diện tích ít nhất là 2m2 và phải kín nhưng đủ ánh sáng.