phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu gồm 3 chương. Cơ sở khoa học của quản lý nhà nước về công tác dân tộc Chương 2. Thực trạng hoạt động quản lý nhà nước về công tác dân tộc trên địa bàn tỉnh Quảng Bình, Chương 3. Quan điểm, giải pháp tiếp tục hoàn thiện hoạt động quản lý nhà nước về công tác dân tộc trên địa bàn tỉnh Quảng Bình 8 Chƣơng 1 CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ CÔNG TÁC DÂN TỘC 1.
Một số khái niệm 1. Dân tộc Cho đến nay, khái niệm dân tộc vẫn còn nhiều tranh luận giữa các nhà khoa học. Từ điển Bách khoa Việt Nam viết: Dân tộc hay quốc gia dân tộc là một cộng đồng chính trị xã hội được chỉ đạo bởi một nhà nước, thiết lập trên một lãnh thổ nhất định, ban đầu được hình thành do sự tập hợp của nhiều bộ lạc và liên minh bộ lạc, sau này là của nhiều cộng đồng mang tính tộc người. Tính chất của dân tộc phụ thuộc vào những phương thức sản xuất khác nhau.
Từ điển Tiếng Việt đưa ra hai định nghĩa: 1) d n tộc là cộng đồng người hình thành trong lịch sử có chung lãnh thổ, các quan hệ kinh tế, một ngôn ngữ văn học và thống nhất về văn hóa, t m lý; 2) d n tộc là cộng đồng người ổn định làm thành nhân dân một nước, có ý thức về sự thống nhất của mình, gắn bó với nhau bởi quyền lợi, chính trị, kinh tế, truyền thống văn hóa và truyền thống đấu tranh chung. Giáo trình Triết học Mác - Lênin (Hội đồng Trung ương chỉ đạo biên soạn giáo trình quốc gia các bộ môn Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Ch Minh) đã viết: Khái niệm dân tộc thông thường được d ng để chỉ hầu như tất cả các hình thức cộng đồng người (bộ lạc, bộ tộc, dân tộc). Cần phân biệt dân tộc theo nghĩa rộng trên đ y với dân tộc theo nghĩa khoa học: đó là hình thức cộng đồng người cao hơn các hình thức cộng đồng người trước đó, kể cả bộ tộc. Cũng như bộ tộc, dân tộc là hình thức cộng đồng người gắn liền với xã hội có giai cấp, có nhà nước và các thể chế chính trị.
Dân tộc có thể từ một bộ tộc phát triển lên, song đa số trường hợp được hình thành trên cơ sở nhiều bộ tộc và tộc người 9 hợp lại. Từ hình thức cộng đồng trước dân tộc phát triển lên dân tộc là một quá trình vừa có tính liên tục vừa có tính nhảy vọt lớn. Theo nghĩa rộng, dân tộc là một cộng đồng người thống nhất, có chung một nhà nước, một lãnh thổ, một nền kinh tế, một chế độ chính trị xã hội, có ngôn ngữ, văn hóa chung, thống nhất [44, tr. Như vậy, theo nghĩa này, nói tới dân tộc là nói tới quốc gia (nation).
Sự hình thành dân tộc là sự ra đời Nhà nước – Nhà nước dân tộc. Nhà nước dân tộc có thể là một tộc người, là dân tộc đơn nhất như Triều Tiên, Nhật Bản, cũng có thể là nhiều tộc người, là dân tộc đa tộc người như Việt Nam, Trung Quốc, Nga. Nhà nước dân tộc phải là nhà nước độc lập, có lãnh thổ toàn vẹn, có chủ quyền. Dân tộc không chỉ là một cộng đồng người hay cộng đồng đa tộc người mà còn là một cộng đồng kinh tế, chính trị - xã hội và văn hóa gắn với nhà nước và những điều kiện lịch sử nhất định.
Theo nghĩa hẹp, dân tộc là chỉ một tộc người cụ thể (ethnic). Ví dụ: Việt Nam là một quốc gia đa d n tộc, là quốc gia đa tộc người, gồm 54 tộc người, ngoài tộc người Kinh chiếm đa số về số dân, cón có 53 tộc người thiểu số khác: Mường, Thái, Tày, Nùng, Ê Đê, Ba Na, Chăm, Khmer. khi nói dân tộc, tộc người là nói theo nghĩa hẹp. Tộc người trong quốc gia - dân tộc có nhiều tộc người hợp thành là một thành phần trong cơ cấu của dân tộc – quốc gia đó.
Các tộc người bình đẳng (thiểu số cũng như đa số), cùng sinh sống, có chung chế độ chính trị, nhà nước pháp luật, kinh tế, văn hóa nhưng lại có văn hóa tộc người riêng của mình (ngôn ngữ, phong tục, tập quán, lối sống riêng của tộc người). Như vậy, dân tộc - quốc gia nổi bật ở tính toàn vẹn lãnh thổ, độc lập chủ quyền. Trong khi đó d n tộc – tộc người lại đặc biệt nổi bật ở văn hóa tộc người. Trong luận văn này, khái niệm dân tộc được sử dụng theo nghĩa hẹp, tức là dân tộc – tộc người.
- Dân tộc đa số: là dân tộc có số dân chiếm trên 50% tổng dân số của cả nước, theo điều tra dân số quốc gia [5]. 10 - Dân tộc thiểu số (DTTS) là những dân tộc có số d n t hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam [5] - Dân tộc rất ít người là dân tộc có số d n dược 10. Vấn đề dân tộc “Vấn đề d n tộc đó là vấn đề về việc xác lập những quan hệ công bằng và bình đẳng giữa các d n tộc về mặt kinh tế, ch nh trị, xã hội, lãnh thổ, sinh hoạt, văn hóa, ngôn ngữ”. “Vấn đề d n tộc là vấn đề rộng lớn, bao gồm những quan hệ về ch nh trị, kinh tế, lãnh thổ, pháp lý, tư tưởng và văn hóa giữa các d n tộc, các nhóm d n tộc và bộ lạc”.
Như vậy, nói về vấn đề d n tộc là nói đến mối quan hệ giữa các d n tộc (hoặc giữa các tộc người) trong một quốc gia và giữa các d n tộc quốc gia này với d n tộc quốc gia khác trên thế giới về ch nh trị, tư tưởng, kinh tế, văn hóa, xã hội, lãnh thổ, pháp lý. Quan điểm đánh giá, giải quyết vấn đề d n tộc phụ thuộc vào quan điểm của các giai cấp lãnh đạo, các đảng phái cầm quyền trong lịch sử xã hội. Quản lý nhà nước Quản lý nhà nước là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nước, sử dụng pháp luật và ch nh sách để điều chỉnh hành vi của cá nhân, tổ chức trên tất cả các mặt của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện, nhằm phục vụ nhân dân, duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội [17. Quản lý nhà nước được hiểu theo nghĩa rộng và hẹp.
Theo nghĩa rộng là toàn bộ mọi hoạt động của nhà nước nói chung, mọi hoạt động mang tính chất 11 nhà nước, nhằm thực hiện các nhiệm vụ, chức năng của nhà nước. Chủ thể của QLNN theo nghĩa rộng là tất cả các cơ quan của bộ máy nhà nước bao gồm ba hệ thống cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp. Nh n d n cũng là chủ thể QLNN theo nghĩa rộng khi thực hiện trưng cầu dân ý – bỏ phiếu toàn dân, hoặc tham gia quản lý nhà nước bằng các hình thức khác. Các tổ chức xã hội, các cơ quan xã hội.
cũng là chủ thể của QLNN theo nghĩa rộng nếu được nhà nước trao quyền thực hiện chức năng nhà nước [51, tr. Hiểu theo nghĩa hẹp, là hoạt động của quản lý do cơ quan hành ch nh nhà nước thực hiện. Đó là hoạt động chấp hành Hiến pháp, pháp luật và điều hành nhà nước (hay thường gọi đơn giản là hoạt động chấp hành và điều hành). Chủ thể của QLNN theo nghĩa hẹp là toàn bộ các cơ quan hành ch nh nhà nước đứng đầu là Chính phủ và các cơ quan phái sinh từ chúng, các cơ quan đơn vị, tổ chức và các cán bộ công chức trực thuộc.
Vì vậy, trong thực tiễn quản lý và lý luận chúng còn được gọi là các cơn quan quản lý nhà nước [51, tr. Trong giới hạn của Luận văn, quản lý nhà nước được hiểu theo nghĩa hẹp. Quản lý nhà nước về công tác dân tộc Trong nghiên cứu và hoạt động thực tiễn hiện nay, “quản lý nhà nước về công tác dân tộc” được các tác giả sử dụng với nhiều khái niệm như: “QLNN về vấn đề dân tộc”, “QLNN về dân tộc”, “QLNN về lĩnh vực công tác dân tộc”, “QLNN ở vùng dân tộc”. cho đến nay khái niệm quản lý nhà nước về công tác dân tộc chưa được đưa ra một cách chính thống tại các văn bản QPPL.
Nghị định số 60/2008/NĐ-CP của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ủy ban Dân tộc có nêu: “.thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công tác dân tộc trong phạm vi cả nước”. Nghị định số 05/2011/NĐ-CP của Chính phủ trong phần giải thích từ ngữ đã nêu: “Công tác dân tộc” là những hoạt động quản lý nhà nước về lĩnh vực dân tộc nhằm tác động và tạo điều kiện để đồng bào các dân tộc thiểu số cùng phát triển, đảm bảo sự tôn trọng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. 12 Như vậy, quản lý nhà nước về công tác d n tộc là một bộ phận cấu thành của hệ thống quản lý nhà nước; quản lý nhà nước về công tác d n tộc là quá trình tác động, điều hành, điều chỉnh và chấp hành mọi hoạt động trong lĩnh vực công tác d n tộc, để những hoạt động đó diễn ra theo đúng quan điểm, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước nhằm mục đ ch phát triển toàn diện các d n tộc. Nội dung quản lý nhà nƣớc về công tác dân tộc - Cơ sở pháp lý của quản lý nhà nước về công tác dân tộc + Hiến pháp năm 2013 khẳng định: Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là quốc gia thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam; các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc; nhà nước thực hiện chính sách phát triển toàn diện và tạo điều kiện để các dân tộc thiểu số phát huy nội lực cùng phát triển với đất nước (Điều 5).
Quốc hội có quyền quyết định chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo của Nhà nước (khoản 5, Điều 70).