Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC TRONG LĨNH VỰC AN TOÀN, VỆ SINH LAO ĐỘNG 1. Lƣợc sử quá trình hình thành và phát triển pháp luật trong lĩnh vực an toàn vệ sinh lao động ở nƣớc ta hiện nay Sau Cách mạng tháng 8 năm 1945, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa mới thành lập, ngày 12/3/1947 Hồ Chủ tịch đã ký Sắc lệnh số 29 ban hành Luật lao động, trong đó đã quy định về bảo hộ lao động ở các điều như: Điều 133 "Các xí nghiệp phải có đầy đủ phương tiện để bảo đảm và giữ gìn sức khỏe cho công nhân. Các nhà máy, dụng cụ phải được sắp đặt và giữ gìn như thế nào cho phù hợp với sự bảo an" [12]. Điều 134: "Công nhân hay thợ học nghề làm trong các giấy mỏ, các ống dẫn hơi, các ống dẫn khói, các nhà tiêu, các thùng chứa chất độc v.
đều phải có các dụng cụ thiết bị để bảo vệ sinh mệnh và tránh tai nạn" [12]. Điều 140: "Những nơi làm việc phải rộng rãi, thoáng khí và có ánh sáng mặt trời. Những nơi làm việc phải cách ly hẳn với nhà tiêu, những cống rãnh để tránh mùi hôi thối" [12]. Hiến pháp đầu tiên của nước ta đã xác định những quyền lợi mà người lao động được đảm bảo như quyền làm việc, có quyền nghỉ ngơi, được bảo hiểm xã hội, cứu tế, y tế.
Phụ nữ lao động được nghỉ ngơi trước và sau khi sinh con, bảo vệ quyền người mẹ và trẻ em (các điều 24, 30, 31, 32, 39). Tháng 9/1991, Hội đồng Chính phủ đã thông qua và công bố ban hành Pháp lệnh Bảo hộ lao động. Pháp lệnh có hiệu lực từ ngày 1/1/1992. Ngày 23/6/1994 Bộ luật lao động đã được Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ IX và có hiệu lực từ ngày 1/1/1995 đã đáp ứng kịp thời để điều chỉnh LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com các quan hệ lao động trong cơ chế thị trường, trong đó Bộ luật lao động dành chọn Chương IX từ điều 95 đến điều 108 để điều chỉnh các quan hệ lao động trong lĩnh vực an toàn, vệ sinh lao động.
Tuy nhiên, nội dung chính sách nhất là các biện pháp và các quy định về an toàn, vệ sinh lao động là rất nhiều, sự phức tạp trong cơ chế quản lý của nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, các chủ sở hữu thì rất đa dạng và phong phú, dẫn tới hệ quả là để điều chỉnh có hiệu quả các quan hệ về an toàn, vệ sinh lao động cần thiết phải nghiên cứu thật kỹ về mặt lý luận để có được những quy định về pháp lý phù hợp. Tiếp đó ngày 31/12/1994 Chính phủ ban hành Nghị định số 195/CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật lao động về thời gian làm việc, thời giờ nghỉ ngơi của người lao động. Ngày 26/3/1998, Thủ tướng Chính phủ ra chỉ thị số 13/CT/TTg nhằm tăng cường chỉ đạo và tổ chức thực hiện công tác bảo hộ lao động trong tình hình xã hội mới. Ngày 27/12/2002, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 110/2002/NĐ-CP về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 06/CP ngày 20/1/1995 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Bộ luật lao động sửa đổi về an toàn, vệ sinh lao động.
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật lao động năm 2006. Bộ luật lao động sửa đổi đã có những quy định rất cụ thể và chi tiết về an toàn, vệ sinh lao động. Cho đến nay, đây là Bộ luật lao động hoàn chỉnh nhất, có những quy định rõ ràng nhất về vấn đề này. Cơ quan quản lý chuyên môn về lao động là Bộ Lao động - Thương binh và xã hội cũng đã ban hành theo thẩm quyền và phối hợp với cơ quan có thẩm quyền liên quan ban hành nhiều văn bản chỉ đạo cụ thể như: - Thông tư liên bộ số 03/TT-LB ngày 28/1/1994 hướng dẫn công tác huấn luyện về an toàn lao động, vệ sinh lao động.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Thông tư 23/LĐTBXH-TT ngày 18/11/1996 của Bộ Lao động - Thương binh và xã hội hướng dẫn chế độ thống kê, báo cáo định kỳ về tai nạn lao động. - Thông tư số 13/TT-BYT ngày 2/10/1996 của Bộ Y tế hướng dẫn thực hiện việc quản lý sức khỏe người lao động và bệnh nghề nghiệp. - Thông tư số 20/1997 TT-LĐTB&XH ngày 17/2/1998 hướng dẫn về việc khen thưởng hàng năm về công tác bảo hộ lao động. - Thông tư số 10/1998 TT-LĐTBXH ngày 28/5/1998 hướng dẫn thực hiện trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân.
- Thông tư liên tịch số 03/1998 TTL-BLĐTBXH-BYT-TLĐLĐVN ban hành ngày 26/3/1998 giữa Bộ Bộ Lao động - Thương binh và xã hội - Bộ Y tế - Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam hướng dẫn về khai báo, điều tra tai nạn lao động. Ngày 20/4/1998 Thông tư liên tịch số 08/1998/TTLT-BYT-BLĐTBXH đã được ban hành nhằm hướng dẫn thực hiện các quy định về bệnh nghề nghiệp. Ngày 30/10/1998, thông tư liên tịch số 14/1998/TTLT-BLĐTBXH- BYT-TLĐLĐVN hướng dẫn việc tổ chức thực hiện công tác bảo hộ lao động trong doanh nghiệp, cơ sở kinh doanh. Thông tư liên tịch số 10/1999 TTLT-BYT-TLĐLĐVN ngày 17/03/1999 hướng dẫn chế độ bồi dưỡng bằng hiện vật đối với người lao động làm việc với các yếu tố nguy hiểm, độc hại.
Ngày 23/6/1994 Quốc hội đã thông qua Bộ luật lao động. Đây là Bộ luật lao động đầu tiên điều chỉnh mối quan hệ làm công ăn lương với các tổ chức và cá nhân có thuê mướn và sử dụng lao động trên cơ sở của giao kết hợp đồng lao động và các quan hệ khác có liên quan đến quan hệ lao động, trong việc tạo lập thị trường lao động đồng bộ, thống nhất. Có thể nói an toàn, vệ sinh lao động đã qui định thành một chương riêng trong Bộ luật lao động (cụ thể là chương IX với 18 điều) các qui định pháp LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com luật trong lĩnh vực an toàn, vệ sinh lao động đã thể hiện quan điểm của Đảng và Nhà nước ta xuất phát từ con người mà trong đó sức lao động là vốn quí. Trên cơ sở các qui định của Bộ luật lao động và các văn bản hướng dẫn thi hành, các Bộ, ngành, đơn vị sử dụng lao động trong phạm vi hoạt động, tính chất nghề nghiệp xây dựng tiêu chuẩn vệ sinh, an toàn lao động của ngành (đơn vị) mình.
Quan niệm quản lý nhà nƣớc trong lĩnh vực an toàn, vệ sinh lao động Trong khoa học quản lý, quản lý nhà nước thường được hiểu: là sự tác động thực tế mang tính tổ chức và điều chỉnh của nhà nước (thông qua hệ thống các cơ cấu của nhà nước) lên sinh hoạt xã hội, cá nhân, tổ chức của con người nhằm mục đích chấn chỉnh trật tự, duy trì hoặc cải tạo nó, dựa trên cơ sở quyền lực của nhà nước. Quản lý nhà nước thực chất là sự biểu hiện khả năng của nhà nước trong việc tổ chức và điều chỉnh đời sống xã hội. Quản lý không phải là một cái gì nằm trên xã hội, bên ngoài xã hội, bên ngoài con người mà nằm bên trong xã hội. Quản lý biểu hiện chất lượng xã hội.
Trong thiên nhiên, các hiện tượng tự nhiên xảy ra một cách tự phát theo quy luật tự nhiên, dựa trên các quy luật sinh học mà thế giới động vật, thực vật đã phát triển một cách tự nhiên. Nhưng xã hội chỉ có thể phát triển được nhờ ý thức, tri thức của con người, con người nhờ ý thức, tri thức của mình mà nhận thức được thế giới xung quanh, nghĩ về thế giới ấy và hình thành nên các kế hoạch để xây dựng cuộc sống của mình. Khả năng điều chỉnh các quan hệ xã hội một cách có ý thức được thực hiện thông qua hoạt động của các cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước. Để quản lý nhà nước cần phải đặt ra các quy tắc hành vi, ứng xử của con người (ban hành văn bản quy phạm pháp luật) và ban hành các quyết định LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quản lý, nhưng không vì thế mà quan niệm quản lý nhà nước là ban hành văn bản quy phạm pháp luật và ban hành các quyết định quản lý cá biệt cụ thể.
Điều này là cần thiết trong quản lý nhà nước, nhưng nếu đi theo logic này tất yếu dẫn đến tình trạng: quản lý tức là thông qua các văn bản giấy tờ hoặc tổ chức triền miên các cuộc họp. Bởi vậy điều quan trọng đối với các nhà quản lý, các nhà hành chính phải luôn ghi nhớ đó là sự tác động mang lại hiệu quả nhất định. Cho nên quản lý với tư cách là sự tác động phải được quán triệt trong toàn bộ bộ máy quản lý trong từng cơ quan, trong ý thức của từng người cán bộ, công chức nhà nước. Chính sự tác động này phải tạo ra những thay đổi thật sự trong đời sống của toàn xã hội, cải tạo được xã hội, nếu không quản lý mất đi ý nghĩa xã hội của nó.
Quản lý nhà nước có các đặc trưng sau đây: Một là, tác động quản lý mang tính tổ chức Tác động quản lý nhà nước là rất phong phú, đa dạng, có nhiều đặc trưng và có ý nghĩa riêng. Khác với các hình thức tác động khác như đào tạo, giáo dục, tác động quản lý nhà nước là một hình thức tác động có tổ chức và mang tính điều chỉnh, có nghĩa là sự tác động này phải đặt con người vào các mối quan hệ tổ chức nhất định, nhờ quan hệ sản xuất, quan hệ công vụ. Bản thân thuật ngữ tổ chức có nghĩa là xây dựng các mối quan hệ giữa con người với con người trong cộng đồng, xã hội, trong mọi lĩnh vực của cuộc sống con người. Tổ chức là sự tập hợp mọi người để đạt được những mục đích nhất định.
Các mục đích ấy chính là cơ sở để xây dựng một tổ chức này hay tổ chức khác. Tổ chức không phải là những hoạt động mà tổ chức chính là tạo ra các điều kiện cho các hoạt động thực tiễn. Thực tiễn đã chỉ ra rằng không ít trường hợp nhiều khi chúng ta thành lập ra vô số các tổ chức, các bộ phận cấu thành của cơ quan, tổ chức nhà nước mà thành lập ra không biết để làm gì, từ đó dẫn đến tình trạng làm cho bộ máy nhà nước cồng kềnh, kém hiệu quả, nhiều cơ quan của nó hoạt động mang tính hình thức. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Hai là, quản lý nhà nước mang tính điều chỉnh; mang tính chất quyền lực; quản lý nhà nước tính khoa học; quản lý mang tính liên tục.