CHƯƠNG 1 TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU, MOT SO VAN DE LY LUAN VA THUC TIEN VE QUAN LY NGAN SACH NHA NUOC 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Trong những năm gần đây, tại Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu về quản lý NSNN từ quy mô cấp quốc gia cho đến cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã. Có thé ké đến một số công trình tiêu biểu như: - Báo cáo tham luận "Y kiến tham gia sửa đổi, bồ sung Luật Ngân sách Nhà nước năm 2002" của tac giả Đặng Văn Thanh trình bay tại buổi toa đàm góp ý hoàn thiện dự thảo Luật ngân sách nhà nước, Hội Luật gia Việt Nam tô chức, ngày 14/01/2014, Hà Nội. Trong báo cáo của mình; tác giả cho răng, Luật NSNN 2002 đi vào cuộc sống đã phát huy mạnh mẽ tiềm năng đất nước, đảm bảo phát triển NSNN nhanh và vững chắc, trên cơ sở tăng quyền chủ động, trách nhiệm của địa phương và các Bộ, ngành trong việc quản lý tài chính ngân sách được phân cấp; xây dựng nền tài chính lành mạnh, công khai, tăng cường ky cương, kỷ luật, thực hiện chế độ trách nhiệm của thủ trưởng đơn vị sử dụng ngân sách.
Tuy nhiên, Luật NSNN 2002 cũng cho thấy không ít vướng mắc và bộc lộ những hạn chế cần phải sửa đổi bổ sung. Một trong những đề nghị sửa đổi bố sung đáng chú ý là xác định mức độ tập trung và phân cấp trong quan ly điều hành ngân sách, theo đó Nội dung phân cấp cần rõ ràng hơn, sâu hơn. Trao quyền và trách nhiệm cho HĐND tỉnh quyết định ngân sách Địa phương. Ngoai ra, không nên giao quyền và trách nhiệm về NSNN như nhau đối với các địa phương mà cần tính đến đặc thù của các địa phương.
Làm được như vậy sẽ giảm dan việc lồng ghép trong ngân sách, phát huy cao độ tính chủ động, sáng tạo của các cấp chính quyên. - Bài báo "Một số vấn dé pháp lý về phân cấp quản lý ngân sách Nhà nước ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay" của tac giả Lê Thị Thu Thủy đăng trên Tạp chí khoa học - Đại học Quốc gia Hà Nội, chuyên san Luật học số 26 (2010). Trong công trình nghiên cứu của mình, tác giả trên cơ sở nghiên cứu thực trạng 4 pháp luật về phân cấp quản lý NSNN, từ đó đưa ra những kiến nghị nham hoàn thiện hệ thống pháp luật quy định về lĩnh vực nghiên cứu. Có hai kiến nghị được chú ý trong nghiên cứu: Một là, kiến nghị bổ sung luật và các văn bản hướng dẫn luật theo hướng tăng quyền chủ động về quản lý NSNN cho địa phương.
Hai là, kiến nghị thời hạn NSNN là trung hạn (Š năm) thay vì một năm như hiện nay đang quy định. - Đề tài luận án tiến sĩ quản lý hành chính công tại Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh "Phân cấp quản lý ngân sách Nhà nước ở Việt Nam hiện nay" (2013), của tác giả Lê Toàn Thắng. Trong luận án nghiên cứu của mình tác giả đã hệ thống hóa lý luận về phân cấp quản lý Nhà nước; thông qua nghiên cứu thực trạng về phân cấp quản lý ngân sách nhà nước ở Việt Nam trước khi ban hành luật NSNN 2002 và sau khi ban hành luật, tác giả đã có những đánh giá những ưu điểm và chi ra tồn tại. Một trong những tôn tại được tác giả chú trọng nghiên cứu đó là phân cấp quản lý NSNN ở Việt Nam vẫn thực hiện theo phương thức quản lý theo các yếu tố đầu vào, tồn tại này làm cho hiệu quả sử dụng NSNN chưa cao.
- Đề tài luận văn thạc sĩ kinh tế tại Đại học Kinh tế - ĐHQGHN “Hoàn thiện công tác quản lý ngân sách cấp huyện của tỉnh Hưng Yên” (2014), của tác giả Vũ Thành Nam. Trong công trình nghiên cứu, tác giả đã hệ thống hóa lý luận cơ bản về quản lý ngân sách nhà nước cấp huyện; thông qua nghiên cứu thực trạng về công tác quản lý NSNN tại thành phố Hưng Yên và huyện Khoái Chau, tác giả đã chỉ ra những mặt hạn chế cần khắc phục như vấn dé mat cân đối trong nội dung thu ngân sách và tình trạng nguồn thu ngân sách phụ thuộc chủ yếu vào nguồn thu không ôn định là tiền sử dụng đất. Ngoài ra, còn có rất nhiều công trình nghiên cứu và bài viết khác về quản lý NSNN ở cấp vĩ mô hoặc trên phạm vi một tỉnh, thành phó, huyện và xã. Các công trình đã đề cập đến nhiều khía cạnh của hoạt động quản lý NSNN; khía cạnh về ban hành Luật pháp, chính sách, chế độ về NSNN, về chu trình ngân sách nhà nước, về hoạt động quản lý thu chi, về thanh tra, kiểm tra và kiểm toán việc thực hiện NSNN.
Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình nao nghiên 5 cứu một cách có hệ thong về quản lý NSNN tại huyện Đức Thọ. Điều đó thúc đây tác giả mạnh dan chọn van dé này làm đề tài nghiên cứu và viết luận văn thạc sĩ, chuyên ngành Quản lý kinh tế. Cơ sở lý luận về quản lý ngân sách nhà nước cấp huyện 1. Ngân sách nhà nước cấp huyện 1.
Ngân sách nhà nước Thuật ngữ "ngân sách nhà nước" được sử dụng rộng rãi trong đời sống kinh tế - xã hội ở mọi quốc gia. Song quan niệm về ngân sách nhà nước lại chưa thống nhất, người ta đã đưa ra nhiều định nghĩa về ngân sách nhà nước tùy theo các trường phái và các lĩnh vực nghiên cứu: Quan niệm thứ nhất, Ngân sách nhà nước là bản dự trù thu chỉ tài chính của nhà nước trong một khoảng thời gian nhất định, thường là một năm. Quan niệm này đúng về mặt hình thức, đã mô tả mặt thực thé vật chất của NSNN; tuy nhiên chưa thể hiện được vị trí của NSNN. Quan niệm thứ hai, Ngân sách nhà nước là quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước, là kế hoạch tài chính cơ bản của nhà nước.
Quan niệm này đã mô tả mặt cụ thể, mặt vật chất của NSNN đồng thời thé hiện vi trí NSNN so với các quỹ tiền tệ khác. Tuy nhiên, quan nay này cũng chưa thê hiện được nội dung kinh tế xã hội của NSNN. Quan niệm thứ ba, Ngân sách nhà nước là những quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình nha nước huy động va sử dụng các nguồn tài chính khác nhau. Quan điểm này đã nêu bật được NSNN chứa đựng các quan hệ kinh tế, tuy nhiên lại không nói lên được thực thê vật chất NSNN là gì? Điều 1 của Luật NSNN được Quốc hội khóa XI nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua tại kỳ họp thứ 2 năm 2002 cũng đưa ra khái niệm NSNN: "NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi cua Nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyên quyết định va được thực hiện trong một năm dé đảm bao thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước”.
Các khái niệm và định nghĩa trên về NSNN chỉ mới thể hiện hình thức hoạt động của NSNN và tính chất pháp lý của nó. Tuy nhiên các nhìn nhận như trên là chưa day đủ về mặt xác định khái niệm và về mặt tìm hiểu bản chất của NSNN. 6 Khái niệm NSNN phải thê hiện được nội dung kinh tế - xã hội của NSNN, phải được xem xét trên các mặt hình thức, thực thể và quan hệ kinh tế chứa đựng trong NSNN. Xét về hình thức: NSNN là một ban du toán thu và chi do Chính phủ lập ra, đệ trình Quốc hội phê chuẩn và giao cho Chính phủ tô chức thực hiện.
Hoạt động của NSNN được thể hiện thông qua thu, chi của Nhà nước. Trong thực tế hoạt động các hình thức thu, chỉ của NSNN hết sức phong phú và đa dạng, nhưng chúng không hề mang tính tự phát hoặc nằm ngoài sự kiểm soát của Nhà nước mà chúng bị ràng buộc bởi những nội dung bên trong hết sức chặt chẽ. Các khoản thu NSNN hau hết đều mang tính chất bắt buộc, còn các khoản chi lại mang tính cấp phát không hoàn trả một cách trực tiếp. Xét về thực thé vật chat: NSNN bao gồm những nguồn thu và những khoản chi cụ thé và được định lượng.
Các nguồn thu đều được nộp vao một quỹ tiền tệ tập trung cua Nhà nước; các khoản chi đều được xuất ra từ quỹ tiền tệ tập trung ay. Xét về nội dung kinh tế: Các khoản thu chi của NSNN đều phan ánh những moi quan hé kinh té nhat dinh giữa Nhà nước với các chu thể hoạt động trên mọi lĩnh vực của nền kinh tế - xã hội, bao gồm: - Quan hệ tài chính giữa Nhà nước với dân cư thông qua các khoản thuế, lệ phí, ủng hộ tự nguyện, đồng thời các hộ khác nhận từ Ngân sách nhà nước những khoản trợ cấp xã hội theo chính sách quy định. - Quan hệ tài chính giữa Nhà nước với các các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế: Doanh nghiệp nộp thuế cho Nhà nước, Nhà nước cấp phát kinh phí để phát triển kinh tế cho doanh nghiệp, tài trợ vốn cho các doanh nghiệp. - Quan hệ tài chính giữa Nhà nước với các tổ chức tài chính: Nha nước thực hiện phát hành các loại chứng khoán như tín phiếu, trái phiếu.
nhằm huy động vốn của tất cá chủ thể trong xã hội. - Quan hệ tài chính giữa Nhà nước với các tô chức chính trị - xã hội thông qua việc cấp phát kinh phí cho các đơn vị thực hiện các hoạt động văn hóa, thể 7 thao, giáo dục đào tạo, y tế, an sinh xã hội. nhằm góp phần phát triển kinh tế xã hội theo hướng bền vững. - Quan hệ tài chính giữa Nhà nước với các Quốc gia và các tổ chức quốc tế thông qua các hoạt động tài trợ hay viện trợ nhân đạo, đầu tư nước ngoai, vay, cho vay.
Tu su phan tich trén co thé đưa ra khái niệm về NSNN như sau: NSNN là bản dự toán thu - chỉ tài chính tổng hợp của Nhà nước, phản ánh các quan hệ kinh tế phát sinh gắn liền với quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các quỹ tiên tệ tập trung của Nhà nước nhằm thực hiện các chức năng của Nhà nước trên cơ sở luật định My Ngân sách nhà nước có thé thâm hụt hoặc thặng dư. Thâm hụt ngân sách nhà nước là tình trạng các khoản chi của ngân sách nha nước lớn hơn các khoản thu ngân sách nhà nước, phần chênh lệch chính là thâm hụt ngân sách nhà nước. Ngân sách nhà nước cấp huyện Luật NSNN số 01/2002/QH11 ban hành ngày 16/12/2002, có hiệu lực thi hành từ năm ngân sách 2004.