phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận văn được trình bày trong 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động trải nghiệm cho học sinh tiểu học ở các trường phổ thông dân tộc bán trú theo hướng giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý hoạt động trải nghiệm cho học sinh tiểu học ở các trường phổ thông dân tộc bán trú tiểu học và trung học cơ sở huyện Trạm Tấu, tỉnh Yên Bái theo hướng giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc. Chƣơng 3: Biện pháp quản lý hoạt động trải nghiệm cho học sinh tiểu học ở các trường phổ thông dân tộc bán trú tiểu học và trung học cơ sở huyện Trạm Tấu, tỉnh Yên Bái theo hướng giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc. 7 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM CHO HỌC SINH TIỂU HỌC Ở CÁC TRƢỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC BÁN TRÚ TIỂU HỌC VÀ TRUNG HỌC CƠ SỞ THEO HƢỚNG GIÁO DỤC BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC 1.
Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Ở nước ngoài Trong từng giai đoạn đều xuất hiện những tư tưởng giáo dục tiêu biểu của các nhà giáo dục. Khái niệm HĐTN (hoạt động trải nghiệm) chỉ xuất hiện rõ rệt nhất trong giáo dục hiện đại, tuy nhiên trong những giai đoạn lịch sử trước đó, các nhà giáo dục vẫn có đề cập đến lĩnh vực này trong tư tưởng giáo dục của mình. 8 hKinh nghiệm cụ thể Thử nghiệm trong Quan sát đối tình huống chiếu và phản ánh Hình thành khái niệm trừu tượng Sơ đồ 1.
Mô hình học tập dựa vào trải nghiệm của Kolb Từ năm 1984 đến nay, từ mô hình học tập dựa vào trải nghiệm trên, David Kolb cùng một số tác giả khác đã có nhiều công trình nghiên cứu có liên quan đến học tập dựa vào trải nghiệm, tập trung vào các lĩnh vực khác nhau như: kinh tế, giáo dục, văn hóa, … Trong lĩnh vực Giáo dục và Đào tạo, có thể kể đến các công trình nghiên cứu sau: Phong cách học tập và không gian học: Tăng cường học tập dựa vào trải nghiệm trong giáo dục đại học (Learning Styles and Learning Spaces: 9 Enhancing Experiential Learning in Higher Education)(2005) của Kolb, KY, DA; Learning how to learn from experience is the way to lifelong learning and development (The Learning Way – Learning from Experience as Path to Lifelong Learning and Development) (2011) by Passarelli, A, Koirb. Hoạt động trải nghiệm bước thêm một bước tiến mạnh mẽ hơn khi vào năm 2002, tại Hội nghị thượng đỉnh Liên hiệp quốc về phát triển bền vững, chương trình “Dạy và học vì một tương lai bền vững” đã được UNESCO thông qua, trong đó có học phần quan trọng về “hoạt động trải nghiệm” được giới thiệu, phổ biến và phát triển sâu rộng. Lý Quang Diệu cho rằng: “Trong vấn đề văn hóa và phát triển thì việc bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc vẫn là vấn đề lớn của thế giới đặc biệt là các nước châu Á. Nếu quốc gia nào không duy trì được bản sắc của mình thì nước đó sẽ đánh mất khả năng tồn tại của mình” [14].
Ở trong nước Tác giả Bùi Thị Kiều Thơ, Vụ giáo dục dân tộc, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã phân tích trong công trình nghiên cứu về phương pháp hoạt động trải nghiệm ở các trường học theo tiếp cận giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc bao gồm: “các phương pháp được sử dụng phổ biến là: tổ chức các hoạt động trải nghiệm, tham quan, khảo sát tìm hiểu thực tế tại các bản làng; khai thác kinh nghiệm thực tế, truyền thống văn hóa vốn có của học sinh; tổ chức các hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh như sưu tầm ca dao, dân ca các dân tộc thiểu số, tìm hiểu các loại nhạc cụ dân tộc, học cách sử dụng một số loại nhạc cụ dân tộc, tìm hiểu văn hóa ẩm thực của các dân tộc, tổ chức tết dân tộc, lễ hội, tổ chức các câu lạc bộ (câu lạc bộ múa, câu lạc bộ ca dao dân ca, câu lạc bộ múa khèn, …), hội thi bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc, hội diễn văn nghệ, thi trình diễn trang phục dân tộc, trưng bày bản sắc văn hóa các dân tộc, tổ chức giao lưu văn hóa giữa các dân tộc trong trường học, thực hành các nghề thủ công truyền thống, liên hoan văn nghệ và trò chơi dân gian, mời nghệ nhân trên địa bàn đến truyền dạy văn hoá cho học sinh …”[33]. Tác giả Lê Huy Hoàng, trường Đại học Sư phạm Hà Nội trong bài viết “Một số vấn đề về hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong chương trình giáo dục phổ thông 10 mới” có đề cập đến quan niệm về hoạt động trải nghiệm sáng tạo. Theo tác giả, hoạt động trải nghiệm sáng tạo sẽ giúp người học hình thành và phát triển được phẩm chất, năng lực, nhận ra năng khiếu, sở thích, đam mê [21]. Tác giả Bùi Ngọc Diệp đã gợi ý các hình thức tổ chức HĐTN có thể tổ chức được nhiều nhất, hiệu quả nhất đáp ứng nhu cầu và mục tiêu giáo dục trong bài Hình thức tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong nhà trường phổ thông [13].
Ngoài ra còn có những nghiên cứu khác như: Chuyển từ tiếp cận nội dung 11 sang tiếp cận năng lực: vấn đề dạy học và tổ chức dạy học tác giả Trần Ngọc Giao, Đặng Thị Thanh Huyền, Nguyễn Thị Mai Phương, tác giả Phó Đức Hòa, Vũ Quang Tuyên chủ biên chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo lớp 2. Đến nay vẫn chưa có một nghiên cứu nào nghiên cứu về quản lý hoạt động trải nghiệm cho học sinh ở các trường phổ thông dân tộc bán trú tiểu học và trung học cơ sở theo hướng giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc. Vì vậy, việc thực hiện đề tài này sẽ không trùng lặp, đảm bảo tính độc lập và có ý nghĩa lý luận và thực tiễn 12 đối với việc nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động trải nghiệm cho học sinh ở các trường phổ thông dân tộc bán trú tiểu học và trung học cơ sở huyện Trạm Tấu, tỉnh Yên Bái theo hướng giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc trong thời gian tới. Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài nghiên cứu 1.
Quản lý giáo dục 13 Qua nghiên cứu các tài liệu, có thể thấy được một số cách để định nghĩa về trải nghiệm: + Trải nghiệm là một phạm trù của triết học, được đúc rút từ toàn bộ các hoạt 14 động của con người ở mọi mặt, như một thể thống nhất giữa kiến thức, kỹ năng, tình cảm và ý chí. Đặc trưng bằng cơ chế kế thừa di sản xã hội, lịch sử, văn hóa. 15 Theo chúng tôi hoạt động trải nghiệm cho HS tiểu học là hoạt động giáo dục, nhà giáo dục định hướng, thiết kế và hướng dẫn thực hiện, tạo cơ hội cho HS tiếp cận thực tế, thể nghiệm các cảm xúc tích cực, khai thác những kinh nghiệm đã có và huy động tổng hợp kiến thức, kĩ năng của các môn học khác nhau để thực hiện những nhiệm vụ được giao hoặc giải quyết những vấn đề của thực tiễn đời sống nhà 16 trường, gia đình, xã hội phù hợp với lứa tuổi của HS tiểu học; thông qua đó, chuyển hoá những kinh nghiệm đã trải qua thành tri thức mới, kĩ năng mới góp phần phát huy tiềm năng sáng tạo và khả năng thích ứng với cuộc sống, môi trường và nghề nghiệp tương lai. Hoạt động trải nghiệm phát triển các phẩm chất chủ yếu, cốt lõi của HS trong các mối quan hệ với bản thân, xã hội, môi trường tự nhiên và nghề nghiệp; được triển khai qua bốn mạch nội dung hoạt động chính: Hoạt động hướng vào bản thân, Hoạt động hướng đến xã hội, Hoạt động hướng đến tự nhiên và Hoạt động hướng nghiệp.
Tác giả Bùi Thị Kiều Thơ, Vụ Giáo dục dân tộc, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã phân tích trong công trình nghiên cứu của mình về giáo dục BSVHDT là “Giáo dục giúp cho HS hiểu biết về truyền thống, bản sắc VHDT, tôn trọng, giữ gìn và phát huy văn hóa truyền thống văn hóa của dân tộc mình, tôn trọng bản sắc văn hóa của các dân tộc anh em” [33]. Theo chúng tôi GD BSVHDT là bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc 17 thiểu số, bảo tồn và phát huy BSVHDT là chiến lược phát triển bền vững quốc gia, là nhiệm vụ chung của toàn xã hội trong đó GD giữ vai trò quan trọng nhất, bằng con đường GD và thông qua GD, các giá trị về vật chất và tinh thần, các kinh nghiệm hoạt động thực tiễn, kinh nghiệm ứng xử, lối sống, ngôn ngữ, phong tục, tập quán … của các dân tộc được lưu truyền, tồn tích, vận hành nối liền các thế hệ. Giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc giúp cho HS hiểu biết về truyền thống, bản sắc VHDT, tôn trọng, giữ gìn và phát huy truyền thống văn hóa của dân tộc mình, tôn trọng bản sắc văn hóa của các dân tộc anh em 1. Trường phổ thông dân tộc bán trú tiểu học và trung học cơ sở Trường phổ thông dân tộc bán trú là trường chuyên biệt, được Nhà nước thành lập cho con em các dân tộc thiểu số, con em gia đình các dân tộc định cư lâu dài tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nhằm góp phần tạo nguồn đào tạo cán bộ cho các vùng này.
Trường phổ thông dân tộc bán trú có số lượng học sinh bán trú theo quy định. Quy định học sinh bán trú là học sinh ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, được cấp có thẩm quyền cho phép ở lại trường để học tập trong tuần, do không thể đi đến trường và trở về nhà trong ngày, được hưởng các chế độ chính sách theo quy định.