Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG THƯ VIỆN VÀ TỔNG QUAN VỀ THƯ VIỆN TỈNH QUẢNG NINH 1. Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động thư viện 1. Các khái niệm liên quan 1. Thiết chế văn hóa Hệ thống thiết chế văn hóa (TCVH) đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của xã hội.
Đây là nơi sinh hoạt văn hóa, tinh thần của cộng đồng và tổ chức các hoạt động tuyên truyền phục vụ nhiệm vụ chính trị, xã hội của địa phương. Cùng với sự phát triển của kinh tế, xã hội, các TCVH trên địa bàn cũng ngày càng phát triển, hoàn thiện, góp phần nâng cao đời sống văn hóa tinh thần cho nhân dân. Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, “Thiết chế văn hóa là chỉnh thể văn hóa hội tụ đầy đủ các yếu tố: cơ sở vật chất, bộ máy tổ chức, nhân sự, quy chế hoạt động, nguồn kinh phí; chỉ riêng ngôi nhà hoặc công trình văn hóa chưa đủ để gọi là thiết chế văn hóa” [25, tr. Thiết chế văn hóa nhằm đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa của người dân là quan niệm khá phổ biến trong các nhà quản lý, thể hiện trên văn bản chính sách và truyền thông.
Tuy nhiên thực chất sự ra đời và tồn tại của thiết chế văn hóa là nhằm đáp ứng cho người dân những nhu cầu về tinh thần cơ bản bên cạnh nhu cầu vật chất như ăn, mặc, ở, đi lại. Thư viện Thư viện là một thiết chế văn hóa quan trọng không thể thiếu trong cấu trúc thống nhất của các thiết chế phục vụ văn hóa, thông tin cho người dân. Thư viện được phân bố đều khắp ở tất cả các vùng của lãnh thổ, địa phương, đơn vị, trường học, phục vụ rộng rãi tất cả mọi người, không phân biệt tuổi tác, dân tộc, tôn giáo, trình độ, giới tính, ngôn ngữ, quốc tịch và địa vị xã hội… góp phần nâng cao trình độ dân trí, học tập suốt đời và giải 10 trí cho nhân dân. Trong đó, thư viện được xem như một trung tâm sinh hoạt văn hóa thông tin của cộng đồng dân cư.
Theo ý nghĩa truyền thống, một thư viện là kho sưu tập sách, báo và tạp chí. Hiểu theo cách khái quát nhất thư viện là nơi tàng trữ và tổ chức sử dụng tài liệu có tính chất tập thể và xã hội. Trong thời đại mới, thư viện vẫn luôn luôn được coi là tòa lâu đài trí tuệ của nhân loại, nơi lưu giữ và bảo tồn những giá trị văn hóa của loài người, là một bộ phận văn hóa và mang thêm sắc thái mới - là trung tâm thông tin, là một bộ phận cấu thành trong hệ thống thông tin tư liệu của các nước, là nơi thu thập và thỏa mãn nhu cầu thông tin cho quảng đại quần chúng. Trên thế giới tồn tại rất nhiều quan điểm khác nhau về thư viện.
Tuy nhiên trong các định nghĩa, định nghĩa của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc (UNESCO) được các nhà thư viện học trên thế giới đánh giá là đầy đủ nhất về thư viện. Trong Giáo trình Thư viện học đại cương, tác giả Bùi Loan Thùy và Lê Văn Viết đã nêu rõ định nghĩa Thư viện theo tổ chức UNESCO như sau: “Thư viện, không phụ thuộc vào tên gọi của nó, là bất cứ bộ sưu tập có tổ chức nào của sách, ấn phẩm định kỳ hoặc các tài liệu khác, kể cả đồ hoạ, nghe - nhìn và nhân viên phục vụ có trách nhiệm tổ chức kho cho bạn đọc sử dụng tài liệu đó nhằm mục đích thông tin, nghiên cứu khoa học, giáo dục hoặc giải trí" [39, tr. Điều 1, Pháp lệnh Thư viện nêu rõ: Thư viện có chức năng, nhiệm vụ giữ gìn di sản thư tịch của dân tộc; thu thập, tàng trữ, tổ chức việc khai thác, sử dụng chung vốn tài liệu trong xã hội nhằm truyền bá tri thức, cung cấp thông tin phục vụ nhu cầu học tập, nghiên cứu, công tác và giải trí của mọi tầng lớp nhân dân; góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, phát triển khoa học, công nghệ, kinh tế, văn 11 hóa phục vụ công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước [49, tr. Quản lý văn hóa, quản lý hoạt động thư viện Quản lý Quản lý là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học tự nhiên và xã hội.
Trong sách Quản lý học đại cương của tác giả Nguyễn Hữu Hải đã nêu rõ theo Các Mác: “Quản lý là một chức năng đặc biệt nảy sinh từ bản chất xã hội của quá trình lao động” [15, tr. Theo quan niệm thông thường Quản lý là các hoạt động có ý thức (của người lãnh đạo, người đứng đầu, người chịu trách nhiệm,…) nhằm định hướng, lập kế hoạch, đầu tư, tổ chức thực hiện, kiểm tra, điều chỉnh bổ sung, sơ kết, tổng kết, nghiệm thu kết quả một quá trình lao động của một tập thể, một cộng đồng. Như vậy, quản lý là một hoạt động tất yếu khách quan, diễn ra ở mọi tổ chức dù quy mô nhỏ hay lớn, có cấu trúc đơn giản hay phức tạp. Xã hội ngày càng phát triển, trình độ hiệp tác và phân công lao động càng cao thì yêu cầu về công tác quản lý ngày càng hoàn thiện.
Do quản lý gắn liền với quá trình phát triển kinh tế, xã hội nên trên thực tế có nhiều quan điểm khác nhau và gắn với mỗi tổ chức hoạt động trong từng lĩnh vực, thậm chí với mỗi quá trình trong từng tổ chức. Tuy nhiên, khi đề cập đến quan lý, có một cách tiếp cận nhận được nhiều nhà khoa học và nhà quản lý thực tiễn đồng tình, đó là: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu dự kiến” [15, tr. Quản lý văn hóa Nhìn chung, chúng ta thường hiểu rằng quản lý văn hóa là công việc của Nhà nước được thực hiện thông qua việc ban hành, tổ chức thực hiện, kiểm tra và giám sát việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật trong 12 lĩnh vực văn hóa, đồng thời nhằm góp phần phát triển kinh tế xã hội của từng địa phương nói riêng, cả nước nói chung. Theo tác giả Hoàng Sơn Cường “Quản lý văn hóa là sự định hướng, tạo điều kiện, tổ chức điều hành cho văn hóa phát triển không ngừng theo hướng có ích cho con người, giúp cho xã hội loài người không ngừng đi lên” [9, tr.
Tuy nhiên, theo tác giả luận văn, khái niệm quản lý văn hóa được thể hiện đầy đủ nhất là: Sự tác động chủ quan bằng nhiều hình thức, phương pháp của chủ thể quản lý (các cơ quan Đảng, nhà nước, đoàn thể, các cơ cấu dân sự, các cá nhân được trao quyền và trách nhiệm quản lý) đối với khách thể (là mọi thành tố tham gia và làm nên đời sống văn hóa) nhằm đạt được mục tiêu mong muốn (bảo đảm văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, nâng cao vị thế quốc gia, cải thiện chất lượng sống của người dân,…) [11, tr. Quản lý hoạt động thư viện Quản lý hoạt động thư viện được hiểu như một quá trình tác động thường xuyên, liên tục của các chủ thể quản lý lên hoạt động thư viện nhằm tận dụng tối đa tiềm năng của thư viện và môi trường xung quanh, đáp ứng nhu cầu tin của các tầng lớp nhân dân ở mức cao nhất. Cũng như các đơn vị sự nghiệp khác, quản lý hoạt động thư viện vừa tuân thủ khoa học về quản lý và nguyên tắc của quản lý, vừa có yếu tố đặc thù của hoạt động chuyên môn ngành thư viện. Theo tác giả Nguyễn Tiến Hiển và Nguyễn Thị Lan Thanh, khi bàn về quản lý thư viện: “Mục đích cuối cùng của quản lý cũng là làm thế nào phục vụ tốt nhất nhu cầu người dùng tin, bảo quản tốt vốn tài liệu và các trang thiết bị, nhằm không ngừng làm giảm nhẹ sức lao động cho cán bộ thư viện thông tin” [18, tr.
13 Hoạt động thư viện được đặt dưới sự quản lý thống nhất của Nhà nước, chủ động dựa vào nội lực là chính, đồng thời phát huy sức mạnh tổng hợp của các loại hình thư viện trong mối liên kết chặt chẽ, thúc đẩy nhau cùng phát triển. Từ những phân tích trên, theo tác giả luận văn, quản lý hoạt động thư viện được nhìn nhận dưới tác động của chủ thể quản lý lên các hoạt động cụ thể của từng cơ quan thư viện, đảm bảo cho hoạt động thư viện được tiến hành có hiệu quả. Nguyên tắc và phương pháp quản lý hoạt động thư viện 1. Nguyên tắc quản lý Để thực hiện quản lý hoạt động thư viện, thông thường phải tuân thủ theo các nguyên tắc chung của quản lý, bao gồm các nguyên tắc cơ bản: Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý; Tập trung dân chủ; Kiểm tra thường xuyên, kịp thời.
+ Nguyên tắc Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý Trong hệ thống chính trị xã hội của nước ta, Đảng Cộng sản Việt Nam là hạt nhân của hệ thống, là Đảng cầm quyền bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân. Đảng không phải là tổ chức quyền lực chính trị như nhà nước, Đảng lãnh đạo chứ không quản lý. Đảng lãnh đạo Nhà nước và vạch ra các đường lối, chủ trương, chính sách lớn, chăm lo công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ trong các cơ quan Đảng và Nhà nước, kiến nghị giới thiệu cán bộ với các cơ quan dân cử một cách dân chủ. Cơ quan thư viện phải phục vụ đường lối phát triển kinh tế - văn hóa của Đảng.
Thư viện được coi là công cụ của công tác Đảng, công tác chính trị, góp phần vào việc tuyên truyền, phổ biến đường lối chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước trong nhân dân. Quản lý thư viện phải lấy quan điểm của Đảng làm kim chỉ nam trong mọi hoạt động của thư viện. 14 + Nguyên tắc tập trung dân chủ Tập trung dân chủ là nguyên tắc quan trọng, tạo khả năng kết hợp quản lý một cách khoa học nền sản xuất xã hội, với việc phân cấp quản lý cụ thể, hợp lý từng cấp, thực tế chỉ đạo thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội đã được đề ra. Nguyên tắc tập trung dân chủ bảo đảm mối quan hệ chặt chẽ và tối ưu giữa tập trung và dân chủ, càng mở rộng dân chủ thì yêu cầu tập trung thống nhất càng cao, khắc phục tình trạng tự do vô chính phủ cũng như tập trung quá mức dẫn đến tập trung quan liêu.
Nguyên tắc tập trung dân chủ được thực hiện thống nhất cho cả mạng lưới cũng như cho từng thư viện.