Chương I NGUOI DUNG TIN VA. HU CAU TIN TRONG HOAT DONG THONG TIN — THU TEN TAI THU VIEN QUAN DOI 1. Những vấn đề chung về nhu cầu tin của người dùng tin 1. Khái niệm về nhu cầu tin và người dùng tin * Khái niệm nhu cầu tin ~ Nhu cầu là một hiện tượng tâm lý nằm trong cấu trúc tâm lý chung của.
con người. Các nhà tâm lý học Máexít cho rằng nhu cầu là đòi hỏi khách quan của con người với một đối tượng nhất định, trong những điều kiện nhất định, đảm bảo duy tri cho sự sống và sự phát triển của con người. [16, tr21] "Nhu cầu được biêu thị ở hai mặt, tác động qua lại với nhau: đối tượng có khả. năng thoả mãn nhu cầu và phương thức thoả mãn nhu cầu.
Tập quán hay thói quen sử dụng thông tin được hình thành trên cơ sở phương thức thoả mãn nhu cầu trở nên ồn định. [1ó, tr21] ~ Nhu cầu tin: Theo quan điểm của tâm lý học Mác xít, có thể coi Ni câu tin là đồi hỏi khách quan của con người đối gi việc tiếp nhận và sử dụng thông tin nhằm duy trì hoạt động sống của con người [16, tr.27] Nhu cầu tin là một dạng nhu cầu tỉnh thần, nhu cầu bậc cao của con người. Nhu cầu tin nảy sinh trong quá trình thực hiện các loại hoạt động khác nhau của con người.27] * Khái niệm người dùng tin - Người dùng tin là người sử dụng thông tin để thỏa mãn nhu cầu của mình [16, tr7] ~ NDT trước hết phải là người có NCT, là chủ thẻ NCT. Đồng thời người có NCT chỉ có thể trở thành NDT khi họ sử dụng thông tin hoặc có điều kiện sử dụng thông tin thỏa mãn nhu cầu của mình.
-l6- ~ NDT là yêu tố cơ bản của mọi hệ thống thông tin. Đó là đối tượng phục vụ của công tác người đọc và đồng thời là khách hàng của dịch vụ thông tin, cũng là người tạo ra thông tin mới NDT giữ vai trò quan trọng trong hệ thống thông tin. Họ như yếu tố tương tác hai chiều với các cơ quan TT-TV. ~ Người dùng tin là người tiêu dùng các sản phẩm và dịch vụ thông tin.
Như vậy NDT là đối tác, khách hàng của hoạt động thông tin. Hoạt động thông tin- thư viện muốn tồn tại và phát triển phải quan tâm tới nhu cầu tin của người dùng tin trong từng thời điểm và địa ban cu thé[16, tr. 8] ~ Người dùng tin là nguồn gốc nảy sinh hoạt động thông tin. Không có NDT không tổn tại hoạt động thông tin.
Nói cách khác, NDT là nhân tố điều chỉnh, định hướng cho hoạt động thông tin. Ý kiến đánh giá của NDT trong quá trình sử dụng thông tin góp phần điều chỉnh hoạt động thông tin theo hướng phù hợp và hiệu quả hơn với nhu cầu của NDT. Đặc điểm nhu cầu tin Nhu cầu tin với tư cách là một loại tỉnh thần của con người, vừa có những đặc điểm của nhu cầu nói chung vừa có những nét riêng biệt - Tỉnh xã hôi của NCT NCT xuất hiện và phát triển dưới ảnh hưởng của các nhân tố xã hội như điều kiện đời sống tỉnh thần, vật chất và các quan hệ xã hội. Là một loại nhu cầu tỉnh thần của con người, NCT gắn bó mật thiết với điều kiện văn hóa xã hội, chịu sự chỉ phối trực tiếp của các yếu tố văn hóa.
Đời sống văn hóa quy định mức độ phong phú của hệ thống nhu cầu tỉnh thần của con người trong đó có NCT. Nội dung NCT do trình độ văn hóa chung quyết định. -17- Xét cho đến cùng, sản xuất vật chất là yếu tố quyết định sự phát triển xã hội, trong đó có đời sống tỉnh thần. Trình độ sản xuất vật chất, đời sống kinh tế của xã hội chỉ phối phương thức thỏa mãn NCT, qua đó ảnh hưởng tới sự phát triển nội dung NCT.
Các quan hệ xã hội thường xuyên tác động tới đời sống tỉnh thần của. mỗi người, mỗi nhóm người cũng như cộng đồng xã hội. Hệ thống nhu cầu của con người cũng chịu sự tác động chỉ phối của các quan hệ xã hội, trong đó có tác động đặc biệt của các quan hệ chính trị. Những quan hệ này do đó có ảnh hường lớn tới xu hướng hình thành và phát triển NCT.
~ Tỉnh bn vững của NCT NCT khi đã được hình thành sẽ tồn tại trong những điều kiện và thời gian nhất định. Điều đó có nghĩa là độ bền vững của NCT phụ thuộc vào điều. kiện bên trong và các yếu tố bên ngoài tác động vào đó trong đó có yếu tố mức độ thỏa mãn NCT. Là một loại nhu cầu tỉnh thần của con người, NCT cũng tồn tại và phát triển theo chu kỳ nhất định, nhưng độ dài của chu kỳ tin không đươc bền vững, phụ thuộc khá nhiều vào điều kiện bên ngoài, đặc biệt là vào khả năng đáp ứng nhu cầu của môi trường bên ngoài.
Nếu được thỏa mãn đầy đủ tới mức tối đa, chu kỳ của NCT sẽ ngày càng rút ngắn. Ngược lại, nếu không. được thỏa mãn một cách đầy đủ, chu kỳ NCT kéo dài hơn. - Tỉnh cơ động của NCT Sự thay đổi linh hoạt của NCT đồng thời cũng là một biểu hiện tính cơ động đặc biệt của nó.
Được thỏa mãn đầy đủ NCT sẽ phát triển sâu rộng hơn vệ nội dung và đòi hỏi phương thức thỏa mãn cao hơn. Nếu không thỏa mãn trong thời gian dài, thường xuyên và liên tục cường độ NCT giảm dẫn, NCT sẽ thoái hóa dần và có thẻ triệt tiêu. -18- Cũng như các nhu cầu tỉnh thần khác của con người, NCT có tính động. cơ cao hơn, dễ biến đổi hơn so với nhu cầu vật chất.
Nhân tố khách quan, chủ quan ảnh hưởng đến sự phát triển nhu cau tin Nhu cầu tin là nhu cầu tỉnh thần đặc biệt, là loại nhu cầu mang tính khách quan (không lệ thuộc vào ý thức chủ quan của con người) đòi hỏi phải được đáp ứng, thỏa mãn để con người sống, tồn tại và phát triền với tư cách là con người xã hội, thực hiện chức năng lao động xã hội do xã hội phân công. Cũng giống như các loại nhu cầu khác của con người, NCT chịu sự tác động của nhiều nhân tố khách quan và chủ quan ảnh hưởng qua: môi trường. xã hội, nghề nghiệp, lứa tuổi, giới tính, trình độ văn hóa, trình độ học vấn, nhân cách. * Nhân tố khách quan .Môi trường xã hội: (kinh tế, văn hóa, xã hội) + NCT chịu ảnh hưởng khá sâu sắc của các điều kiện môi trường xã hội.
Đời sống văn hóa tỉnh thần phong phú là tiền đề cho NCT phát triển + Tính chất và trình độ lực lượng sản xuất ảnh hưởng trực tiếp tới NCT: (khi lực lượng sản xuất càng phát triển thì càng cần nhiều thông tin hơn, phương tiện truyền tin hiện đại hơn.) + Đời sống được nâng cao tạo điều kiện phát triển NCT + Chế độ dân chủ làm cho con người tự do hơn, đời sống tỉnh thần phong phú hơn, kích thích NCT phát triển cao hơn. Nghè nghiệp + Hoạt động lao động là hoạt động chủ đạo trong một thời gian dài của con người. Do đó ảnh hưởng đến đời sống tỉnh thần của con người -19- + Tính chất hoạt động lao động ảnh hưởng tới xu hướng của con người, trong đó có hệ thống nhu cầu bao gồm nhu cầu đọc và nhu cầu tin + Nghề nghiệp khác nhau đề lại nhiều dấu ấn khác nhau trong nội dung NCT và tập quán sử dụng thông tin Lita tuổi + Mỗi lứa tuổi có đặc điểm tâm lý riêng do cấu trúc hoạt động chủ đạo chỉ phối. Tâm lý lứa tuổi có ảnh hưởng lớn tới nội dung và phương thức thỏa mãn NCT.
+ Lửa tuổi có thể phân theo: người lớn tuổi (60 tuổi trở lên), tuổi trung niên (35-59 tuổi), tuổi thanh niên (18-34 tuổi), tuổi thiếu niên, nhỉ đồng (1-17 tuổi) Giới tính + Do đặc điểm sinh lý, các giới khác nhau có những đặc điểm tâm lý khác nhau. Các đặc điểm giới tính cũng được biểu thị trong các nội dung và cách thức thỏa mãn NCT của mỗi người Aức độ và phương thức thỏa mãn nhu cầu + Được thỏa mãn bằng phương thức hiện đại, đầy đủ thì nhu cầu sẽ càng phát triên ở mức độ cao hơn + Chu kỳ nhu cầu rút ngắn thì nhu cầu sẽ xuất hiện lại dưới dạng cao hơn, sâu sắc và cấp bách hơn + Nếu không được thỏa mãn đây đủ trong thời gian dài thì nhu cầu sẽ bị thoái hóa đi * Nhân tố chủ quan Trình độ văn hóa -20- + Trình độ văn hóa có ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống tinh thần của con người (khi trình độ cảng cao thì nhu cầu hiểu biết và thẳm mỹ càng phát triển) + NCT là nhu cầu tỉnh thần nên NCT và NCĐ cũng bị chỉ phối bởi trình độ văn hóa của con người (thể hiện ở nội dung và phương thức thỏa mãn) Trình độ học vẫn + Trình độ học vấn càng cao thì NCT của NDT càng phát triển. Khi NDT có trình độ học vấn cao thì yêu cầu về thống tin, tài liệu phải mang tính chuyên sâu, NCT sẽ phát triển sâu rộng hơn về nội dung và đòi hỏi phương thức thỏa mãn cao hơn Nhân cách + Nhân cách là toàn bộ những đặc điểm, phẩm chất tâm lý của cá nhân, quy định hành vi xã hội và giá trị xã hội của họ. Nhu cầu là bộ phận cấu thành xu hướng — một thuộc tính quan trọng của nhân cách con người.
Nhân cách tồn tại và phát triển trong hoạt động. Nhân cách càng phát triển thì hoạt động. càng phong phú, NCT càng cao, càng nhạy cảm 1. Đặc điểm hoạt động Thông tin - Thư việ tại Thư viện Quân đội 1.
Khái quát về Thư viện Quân đội Cách đây 54 năm, ngày 15 tháng 11 năm 1957, theo chỉ thị của Tổng Quân uỷ (nay là Đảng uỷ Quân sự Trung ương) mà trực tiếp của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh - Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, TVQĐ được thành lập (tách ra từ Câu lạc bộ Quân nhân) với 3 nhân viên và 500 cuốn sách do các cơ quan Bộ Quốc phòng lưu giữ trao lại. 54 năm qua, TVQĐ đã không ngừng sưu tầm, bổ sung, tăng cường vốn tài liu (VTL), mua sm trang thiết bị đáp ứng nhu cầu TT và NCKH của cán bộ, chiến sĩ quân đội trong thời chiến cũng như thời bình. -21- Năm 1960, TVQĐ đã sưu tâm và bổ sung được 31.095 cuốn TL các loại. Trong số TL này, có nhiều sách báo ngoại văn do Văn phòng Bộ Quốc phòng ưu tiên chuyển cho TVQĐ tất cả số sách báo do quân đội 12 nước XHCN tang.