Chương 1 CHỦ QUYỀN QUỐC GIA VEN BIỂN ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG THĂM DÒ, KHAI THÁC DẦU KHÍ Ở CÁC VÙNG BIỂN 1. CHỦ QUYỀN QUỐC GIA TRONG LUẬT QUỐC TẾ Hiến chương Liên hợp quốc đã trịnh trọng ghi nhận nguyên tắc tôn trọng chủ quyền của tất cả các quốc gia trong quan hệ quốc tế: "Liên hợp quốc được tổ chức trên cơ sở tôn trọng sự bình đẳng về chủ quyền giữa tất cả các thành viên" (Điều 2). Một trong những đặc điểm cơ bản của luật quốc tế hiện đại thể hiện ở chỗ các chủ thể cơ bản của nó là các quốc gia có chủ quyền. Quốc gia được cấu thành bởi ba yếu tố: Lãnh thổ (cơ sở vật chất cho sự tồn tại của quốc gia); dân cư; và quyền lực công khai (các yếu tố tinh thần).
Chủ quyền là thuộc tính chính trị - pháp lý của quốc gia. Chủ quyền quốc gia có hai nội dung cơ bản: Quyền tối cao của quốc gia đối với lãnh thổ (hay trong phạm vi lãnh thổ quốc gia) và quyền độc lập của quốc gia trong quan hệ quốc tế. Khái niệm chủ quyền quốc gia, chủ quyền dân tộc và chủ quyền nhân dân xuất hiện cùng với thắng lợi của cách mạng tư sản ở phương Tây, trong tuyên ngôn của Cách mạng dân chủ tư sản Pháp và cũng từ thời kỳ này khái niệm chủ quyền được nghiên cứu một cách có hệ thống mặc dù chủ quyền là thuộc tính của nhà nước, xuất hiện cùng với sự xuất hiện của nhà nước. Quyền tối cao của quốc gia - chủ quyền quốc gia được hiểu là quyền lực công tuyệt đối, loại bỏ bất kỳ quyền lực nào từ bên ngoài.
Nhà nước thực hiện quyền tối cao của mình trong phạm vi lãnh thổ quốc gia, tổ chức việc thực hiện quyền lực ấy về mặt hành chính. Sự độc lập của quốc gia trong quan hệ quốc tế thể hiện việc quốc gia không lệ thuộc vào quyền lực của Nhà nước nước ngoài, của các định chế quốc tế, tức là hoàn toàn tự mình quyết định mọi vấn đề của mình trong quan hệ quốc tế. 7 z Quyền tối cao của quốc gia đối với lãnh thổ và sự độc lập về mặt chính trị của quốc gia trong quan hệ quốc tế có mối liên hệ mật thiết với nhau và thể hiện sự vô giới hạn về mặt pháp lý của ý chí của quốc gia. Thật vậy, quyền lực mà lệ thuộc vào một quyền lực khác thì không thể là quyền lực tối cao, bởi vì trong trường hợp này thì quyền lực sau mới là tối cao vì nó quyết định ý chí của quyền lực trước.
Tuy nhiên cũng không thể khẳng định rằng chủ quyền là trạng thái pháp lý độc lập của quyền lực nhà nước của một quốc gia nhất định đối với bất kỳ một quyền lực nào khác trong phạm vi lãnh thổ quốc gia cũng như ngoài phạm vi đường biên giới quốc gia. Sự khẳng định này sẽ dẫn đến cách hiểu không đúng về sự độc lập của quyền lực nhà nước trong phạm vi lãnh thổ của mình nhưng đồng thời lại cho phép sự tồn tại của các chủ thể của quyền lực tối cao khác trong phạm vi lãnh thổ của mình. Các quan hệ tư bản chủ nghĩa phát triển và được củng cố trong lòng xã hội phong kiến còn các mối liên hệ dân tộc lại được củng cố trên cơ sở các quan hệ tư bản chủ nghĩa đã dẫn tới nhu cầu xoá bỏ sự cát cứ phong kiến và xây dựng các nhà nước dân tộc tập trung. Đại diện cho khuynh hướng này là quyền lực của vua chúa phong kiến trung ương tập quyền ở Tây Âu.
Sự hình thành nhà nước phong kiến trung ương tập quyền đã trải qua cuộc đấu tranh gay gắt với ba lực lượng chính trị theo các khuynh hướng khác nhau: quyền lực của nhà thờ, của các vị hoàng đế và của các tập đoàn phong kiến cát cứ. Trong cuộc đấu tranh này quyền lực vua chúa phong kiến (tiêu biểu là ở Pháp) đề xướng và đấu tranh bảo vệ đến cùng tư tưởng về tính tối cao tuyệt đối và sự độc lập tuyệt đối, tách biệt khỏi bất cứ một thứ quyền lực tối cao nào khác. Tư tưởng về chủ quyền của J. Bodin, một học giả Pháp đã trở thành học thuyết đầu tiên về chủ quyền quốc gia.
Trong tác phẩm nổi tiếng "Sáu cuốn sách về nhà nước" J. Bodin đã trình bày học thuyết về chủ quyền với tính cách là quyền lực quân chủ tối cao, tuyệt đối. Theo ông, chủ quyền là quyền thường xuyên, quyền tuyệt đối của nhà nước, quyền cai trị thần dân, thứ quyền lực vĩnh hằng, không bao giờ thay đổi, không quyền lực nào có thể 8 z thay thế. Chủ thể của chủ quyền là nhà vua.
Học thuyết của J. Bodin đã được thừa nhận rộng rãi và là cơ sở để hình thành nguyên tắc chủ quyền ở các phương diện khác nhau theo quan điểm tư sản. Trong sách báo pháp lý quốc tế thời bấy giờ đã thịnh hành quan niệm cho rằng chủ quyền là quyền lực tối cao của nhà nước. Và do vậy, chủ quyền được xem như một trong những đặc trưng cơ bản của nhà nước (bên cạnh các đặc trưng khác của nhà nước mà quan điểm mácxit cũng thừa nhận: phân chia dân cư thành các đơn vị hành chính-lãnh thổ, ban hành pháp luật, quy định và thu các loại thuế).
Tuy nhiên, học thuyết tư sản về chủ quyền không có khả năng giải thích về bản chất của nhà nước, mà chỉ xem xét khái niệm chủ quyền trên cơ sở quan niệm giáo điều, trừu tượng, hình thức. Quan niệm tư sản về chủ quyền mang tính chất giai cấp rõ nét. Nội dung của các quan niệm này thay đổi tùy thuộc vào các giai đoạn phát triển của chủ nghĩa tư bản, vào quan niệm và mục tiêu của giai cấp tư sản thống trị ở các nhà nước khác nhau nhưng về bản chất mà nói là thống nhất với nhau ở chỗ nó cố biện minh cho quyền tối cao, tuyệt đối của giai cấp thống trị trong xã hội. Và chúng ta cũng thấy rõ tính chất của học thuyết về chủ quyền của học thuyết tư sản: chủ quyền chỉ có thể có ở các nhà nước văn minh còn các nước khác chỉ có quyền trở thành nhà nước bị trị, phụ thuộc, trở thành thuộc địa.
Chỉ có chủ nghĩa Mác - Lênin mới cho chúng ta thấy rõ bản chất của chủ quyền quốc gia. Chủ quyền quốc gia của Nhà nước xã hội chủ nghĩa là quyền lực của nhân dân lao động, là dân chủ của quần chúng nhân dân lao động, dân chủ đối với đa số. Trong pháp luật quốc tế, sự độc lập của quốc gia trong quan hệ quốc tế được coi là khía cạnh quan trọng của chủ quyền quốc gia. Sự độc lập của một quốc gia được hiểu là quốc gia đó không phụ thuộc, không lệ thuộc vào bất cứ quốc gia nào khác.
Sự độc lập của các quốc gia trong quan hệ quốc tế không đồng nghĩa với sự biệt lập của các quốc gia. Các quốc gia trong thế giới hiện đại luôn có mối quan hệ khăng khít với nhau. Củng cố và duy trì các mối quan hệ kinh tế, văn hóa giữa các quốc gia bao giờ 9 z cũng là nhu cầu tất yếu của hiện thực khách quan, nảy sinh từ các mối quan hệ quốc tế. Hoạt động của các quốc gia trên trường quốc tế được quyết định bởi điều kiện tồn tại xã hội của các quốc gia, sự tồn tại trong hệ thống các quốc gia, trên phạm vi toàn thế giới và ở mỗi khu vực trên thế giới.
Sự độc lập của các quốc gia trong quan hệ quốc tế do vậy chính là sự tự do hành động của mỗi quốc gia trọng khuôn khổ pháp luật quốc tế, đồng thời đó là sự tự do thể hiện ý chí của các quốc gia trong cuộc đấu tranh và cùng nhân nhượng của quá trình xây dựng các nguyên tắc và quy phạm pháp luật quốc tế. Sự tự do hành động của quốc gia trong quan hệ quốc tế vừa sự hạn chế thực tế (do điều kiện bên trong và bên ngoài của mỗi quốc gia chi phối), và vừa có sự hạn chế về mặt pháp lý (do pháp luật quốc tế quy định). Sở dĩ có sự hạn chế này là do có sự hiện diện của sự tự do của các quốc gia khác. Chủ quyền quốc gia cũng xác định giới hạn của sự điều chỉnh của pháp luật quốc tế.
Pháp luật quốc tế không thể điều chỉnh trực tiếp các quan hệ nội bộ của mỗi quốc gia, nơi mà sự ngự trị là chủ quyền quốc gia. Trong pháp luật quốc tế có sự xác định rất rõ đâu là ranh giới của công việc nội bộ hoàn toàn thuộc chủ quyền của quốc gia. Như vậy, chủ quyền quốc gia gắn bó chặt chẽ với pháp luật quốc tế và có mối liên hệ chặt chẽ với chính sách hội nhập quốc tế và hội nhập khu vực của mỗi quốc gia. Luật quốc tế hiện đại đã xây dựng nguyên tắc và các quy định bảo đảm cho quốc gia thực hiện quyền tối cao của quốc gia đối với lãnh thổ bằng thực tế là quốc gia chiếm hữu, quản trị thực sự, duy trì liên tục và hoà bình thựcn lực Nhà nước trong phạm vi lãnh thổ thống nhất, toàn vẹn và bất khả xâm phạm.
Ở Việt Nam, quyền tối cao của quốc gia đối với lãnh thổ được quy định trong Hiến pháp năm 1992 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam "Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một nước độc lập có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bao gồm đất liền, các hải đảo, vùng biển và vùng trời" (Điều 1) "Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 10 z là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân" (Điều 2). Những nội dung này còn được ghi nhận trong một số văn bản pháp lý khác. Như vậy, quyền tối cao của quốc gia đối với lãnh thổ thể hiện ở chỗ: Trong phạm vi lãnh thổ của mình quốc gia có quyền tối cao về lập pháp, hành pháp và tư pháp.
Đó cũng chính là công việc nội bộ của mỗi quốc gia không thể có sự can thiệp từ bên ngoài. Trong phạm vi lãnh thổ quốc gia, quyền tài phán quốc gia cũng mang tính tuyệt đối. Quyền của quốc gia độc lập trong quan hệ quốc tế thể hiện ở các nội dung sau: - Các quốc gia có quyền độc lập trong việc quyết định về chính sách đối nội và đối ngoại của mình. Đó là quyền tối cao của quốc gia không thể có sự can thiệp, áp đặt từ các quốc gia khác.