CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VE QUAN LÍ HOẠT DONG SỞ HỮU TRÍ TUE Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC 1. TONG QUAN NGHIÊN CỨU VAN DE VE QUAN LÝ HOAT ĐỘNG SỞ HỮU TRÍ TUỆ Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề ở nước ngoài 1) Nghiên cứu về hoạt động sở hữu trí tuệ ở trường đại học Các nghiên cứu về SHTT ở trường ĐH trên thế giới chú trọng làm rõ tài sản SHTT thuộc trường DH, đồng thời dé cập đến mục đích, vai trò của hệ thong SHTT đối với trường ĐH trên tất cả mọi mặt: đảm bảo quyền SHTT cho nhà nghiên cứu: thương mại hoá SHTT nhằm phát triên kinh tế, xã hội: nâng cao năng lực sáng tạo cho trường ĐH, đôi mới quốc gia. Nanyaro (2000) nhấn mạnh tầm quan trọng của hệ thông SHTT ở các trường DH trong bỗi cảnh toàn cầu hoá và tự đo hóa các nền kinh tế trên toàn thé giới.
Theo đó, các kết quả nghiên cứu từ trường DH can được quan tâm thương mại hóa nhắm phát triên kinh tế, Risaburo Nezu & cộng sự (2007) nhận định, các trường DH đóng vai trò hàng đầu trong việc thúc day biên giới của KH&CN, vì vậy mỗi quan tâm chính của các nhà hoạch định chính sách là làm thé nào dam bảo rằng SỰ giau có của kiến thức được tạo ra trong các trường DH có thé được chuyển giao cho ngành công nghiệp đề xã hội và các đoanh nghiệp địa phương nói riêng có thé được hưởng lợi từ chuyên môn KH&CN của trường DH, trong đó, Quyền SHTT được xác định như là một cơ chế cung cấp sự cần thiết ưu đãi cho việc thương mại hóa kết quả nghiên cứu từ trường DH. Paul Wellings (2008) sử dụng thuật ngữ chung vẻ SHTT dé mô tả đầu ra của tat cả các HD sáng tạo của con người và có thé mang giá trị thương mai. Tác gia đề cập đến tài sản SHTT trong trường ĐH như: kiến thức, kết quả nghiên cứu, bí quyết, ý tưởng công nghệ, an phâm phát sinh từ HĐ nghiên cứu. giảng dạy và các HĐ khác mả trường ĐH thực hiện.
các kết quả SHTT này có vai trò củng cé tat cả HD của một trường ĐH. Những kết luận của các tác giả trên đây đã cho thay được tam quan trọng của SHTT đối với việc bảo vệ thành quả sáng tạo, tạo ra lợi ích kinh tế của nhà khoa học và trường ĐH thông qua HD khai thác thương mại SHTT. 12 Phil Clare & cộng sự (2014) tiếp cận khung pháp lý SHTT bao gồm các quyền được đăng ky cụ thể (bằng sáng chế, nhãn hiệu, thiết kế đã đăng ky); các quyền không được đăng ký (quyên tác giả và quyền thiết kế) và các quyền phô biến của pháp luật. Trên cơ sở đó, các thuật ngữ “Hard IP” (có thẻ cấp bang sáng chế) va “Soft IP” (bao gồm bắt kỳ quyền SHTT nào không được cấp bảng sáng chế) đã được đặt ra dé phân biệt giữa các quyền khác nhau.
Nghiên cứu này cho thấy, các trường ĐH tại Anh có xu hướng tập trung nhiều vào Hard IP, trong khi Soft IP ở trường ĐH được chấp nhận rộng rãi như kiến thức hoặc “bí quyết”, các phần mềm, các giống động vật, thực vật hay sử dụng dé mô tả kỹ năng của con người (Phil & cộng sự, 2014; Andersen, 2010). Trên một khía cạnh khác. vai trò của SHTT được nhìn nhận như là một thành phan quan trọng của các hệ thong đổi mới quốc gia. Hệ thong Quyền SHTT dự kiến sẽ đóng vai trò xúc tác trong việc khuyến khích đổi mới và chuyên giao công nghệ (CGCN) thành công từ các cơ sở nghiên cứu va giáo dục DH (Cullet & Mbote, 2005; Mugabe, 2006).
Đặc biệt, Blakeney & Mengistie (2011) mô ta Quyên SHTT như là “thành phan của cơ sở hạ tầng phát trién” thông qua mối quan hệ nhân quả giữa SHTT - CGCN và phát trién. SHTT là một trong những tài sản có giá trị nhất có thé đo được tính khả thi và hiệu suất tương lai của một tô chức và nhìn nhận theo quan điểm hai thành phan, một mặt là tài sản công nghiệp. bản quyên và các quyền liên quan, mặt khác là một công cụ mạnh mẻ cho sự phát triển và phúc lợi kinh tế, xã hội và phát triển văn hoá của một quốc gia (Mihai Constantinescu & cộng sự, 2016). Một trong những yếu tổ thúc đây đổi mới và nâng tầm sáng tạo cho doanh nghiệp, trường DH và các tô chức nghiên cứu chính là SHTT.
Quyên SHTT được xem là một yếu tố quan trọng trong khung điều kiện của Khoa học, Công nghệ và Đôi mới (STI - Science, Technology and Innovation). Số lượng bằng sáng chế quốc tế đạt được cũng là một chỉ báo tốt vé cách thức quản lý SHTT anh hưởng đến sự hợp tác STI quốc tế khi nó tái lập quy trình doi mới trong và ngoài nước (Sara Medina & Kai Zhang, 2014). các tác giả nhân mạnh tam quan trọng của SHTT. "giá trị sở hữu trí tuệ" (intellectual property value) và sự cần thiết ứng dụng các tài sản SHTT trong khu vực tư nhân dé kết quả nghiên cứu trở nên hiệu quả hơn.
Có thé nhận định rằng, một điềm chung của các nghiên cứu trong xu hướng nay 1a đều có sự nhận định về quyền SHTT 1a quyền sở hữu các TSTT- những kết quả từ HD tư duy, sáng tạo của con người. Đối tượng của loại sở hữu này là các tai 13 san phi vật chất nhưng có giá trị kinh tế, tinh than to lớn góp phan quan trọng trong quá trình hình thành va phát triển nền văn minh, KH&CN của nhân loại. Trên cơ sở nhân mạnh tâm quan trọng của SHTT trong việc mang lại những lợi ích to lớn về kinh tế và xã hội, các nghiên cứu nêu trên đã nêu rõ trách nhiệm của các trường DH trong việc cần sớm tim ra cách thức dé bao hộ, sử dụng, quan lý tài sản SHTT hợp lí, phù hợp với tính chất dao tạo và nghiên cứu của mỗi trường. 2) Nghiên cứu về quản lý hoạt động sở hữu trí tuệ ở trường đại học a) Nghiên cứu về giải pháp quan lý hoạt động sở hữu trí tuệ Việc quản lý kết qua R&D tại các trường DH (HEIs) trở nên khó khăn khi phải đưa ra các quyết định liên quan đến quyền sở hữu và thương mại hóa TSTT trong bối cảnh lợi ích cạnh tranh của các nhà tài trợ, nhà nghiên cứu và chính các trường ĐH.
Tình trạng nay dan đến việc TSTT do trường ĐH phát triển sẽ thuộc sở hữu của các bên thứ ba, ngay cả khi TSTT đó xuất phát từ R&D do Nhà nước tài trợ hoặc được tạo ra bởi các nha nghiên cứu của trường DH. Do đó, các trường DH, với tư cách là những người tạo ra kiến thức mới, bắt buộc phải có khung chính sách hướng dẫn quá trình ra quyết định về các vấn đề liên quan đến SHTT (Vuyisile Hobololo, 2016). Quản lý quyền SHTT là một vấn đề quan trọng, vi nó vừa cho phép vừa hạn chế việc sử dụng kết quả nghiên cứu và tác động đến khả năng cạnh tranh của các đoanh nghiệp dựa trên công nghệ (Marcus Holgersson, Lise Aaboen, 2109). Các trường DH là nền tảng của sự phát triển tri thức, tuy nhiên, sự thiểu hụt hệ thống quan lý SHTT có thé được quan sát thấy ở hau hết các nơi (Ondrej Krejcar, 2020).
Do đó, can tuyên truyền mạnh mẽ và quản lý chặt chẽ quyền SHTT trong các trường DH dé bảo vệ chong lại hành vi xâm phạm quyền SHTT, ngăn chặn những hậu quả bat lợi của các hành vi xâm phạm đó đối với đào tạo ĐH (Nwabueze & cộng sự, 2020). Trong xu hướng nghiên cứu về giải pháp quản lý HĐSHTT ở trường ĐH, các tác giả đã chú trọng dé xuất giải pháp quản lý HDSHTT. Nanyaro (2000) cho rằng, các trường DH cần chú trọng quản lý HĐSHTT thông qua việc ban hành thê chế. chính sách nội bộ về quyền SHTT: xây dựng chương trình giảng dạy về SHTT với các phương pháp.
phương tiện hiện dai nhằm đảo tạo và phát trién nguồn nhân lực SHTT. Tác gia khang định, quá trình quản lý SHTT trong các trường DH sẽ thành công nếu các tô chức đó tạo ra một nên văn hoá tôn trọng SHTT. Mặt khác, cân có hiệu biết rõ rang về vai trò của l4 từng bên liên quan bên trong và bên ngoài tô chức (chính phủ, ngành, tô chức pháp chế và tài chính). John Archer, Philip Graham (2002) nhân mạnh các trường DH đóng một vai trò quan trọng trung tâm của nên KTTT thông qua quá trình tạo lập TSTT từ nghiên cứu va đảo tạo, vì vậy trường DH cần có những chiến lược và chính sách dé đảm bảo TSTT được quản lý thành công.
Tác giả đưa ra bản hướng dan và xác định các van đề cần giải quyết dé quản lý HDSHTT ở trường DH là: (1) Đàm phán với nhà tài trợ: (2) Chuyên giao tri thức; (3) Thu nhập và các lợi ích khác cho trường ĐH. Quản lý HĐSHTT đóng vai rất quan trọng trong trường ĐH không chỉ vì lợi ích tài chính mà còn tác động tới nhiều yếu tố khác liên quan đến việc thực hiện mục tiêu của trường ĐH, bao gồm: chuyên giao kiến thức và công nghệ. nghiên cứu, giảng dạy. Risaburo & cộng sự (2007) đặc biệt nhắn mạnh đến các phương pháp thực tiễn cho việc thực hiện CGCN từ các trường ĐH sang lĩnh vực công nghiệp như: (1) Thành lập văn phòng chuyên trách CGCN (TTO - Technology Transfer Office) dé có sự tương tác trực tiếp với các nhà nghiên cứu; (2) Thủ tục đơn giản và minh bach dé không làm chậm HD CGCN và hỗ trợ hiệu quả nhà nghiên cứu: (3) Các quyết định và chi phí bằng sáng chế: Phân bỏ kinh phí dé nộp đơn xin cấp bằng sáng chế; (4) TTO chịu trách nhiệm tiếp thị và tìm kiếm đối tác thương mại dé cấp phép cho công nghệ được bảo vệ.
Có thé thay rằng, khuyến khích CGCN từ các trường DH sang khu vực tư nhân đã được xác định ở nhiều nước như một mục tiêu nhằm tăng cường khả năng cạnh tranh của khu vực tư nhân thông qua tiếp cận các kết quả nghiên cứu sáng tạo và đảm bảo kết quả R&D được ứng dụng trong xã hội thông qua thương mại hóa. Wei-Lin Wang (2012), thực hiện nghiên cứu đánh giá hệ thống pháp lý và thực tiễn CGCN tai Đài Loan và đưa ra những kiến nghị dé phát huy tôi đa những lợi ích của Luật KH&CN tại Đài Loan. Nghiên cứu cho thấy, mặc dù Luật KH&CN Đài Loan vẫn còn những ton tại nhưng từ khi thông qua các điều luật cơ bản đã tạo ra hiệu suất và phát triên phong trào sáng chế, ứng dụng bang sáng chế; CGCN và thu nhập từ bản quyên tăng đáng kê.