Chương 1. Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục cho học sinh ở trường trung học; Chương 2. Thực trạng quản lí hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh ở các trường Phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Sóc Trăng; Chương 3. Biện pháp nâng cao hiệu quả quản lí hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh ở các trường Phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Sóc Trăng.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC VĂN HÓA DÂN TỘC CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Văn hóa là vấn đề được các nhà tư tưởng và triết học đề cập đến từ lâu, được xã hội mọi thời đại cả ở phương Tây lẫn phương Đông quan tâm và coi trọng. Ở phương Đông, Khổng Tử (551 - 479 TCN), nhà triết học lớn, nhà giáo dục lớn của Trung Quốc đã khai sinh ra Nho giáo với quan điểm bồi dưỡng người có “đức nhân”, người “quân tử” có đủ phẩm cách và năng lực thi hành “đạo lớn”. Ông đã viết tác phẩm bất hủ “Dịch, Thi, Thư, Lễ, Nhạc, Xuân Thu”, trong đó rất xem trọng việc giáo dục đạo đức.
Petxtalôdi (1746 – 1827), một trong những nhà giáo dục tiêu biểu của thế kỷ XIX, đã đánh giá rất cao vai trò của GDVH. Ông cho rằng nhiệm vụ trung tâm của giáo dục là giáo dục văn hóa cho trẻ em trên cơ sở chung nhất là tình yêu về con người. Tình yêu ấy bắt nguồn từ gia đình, trước hết là đối với cha mẹ, anh chị em rồi đến bạn bè và mọi người trong xã hội. Vào thế kỷ XX, nhà sư phạm A.
Macarenco của Liên Xô với tác phẩm “Bài ca sư phạm” đã đề cập đến vấn đề giáo dục công dân (giáo dục trẻ em phạm pháp và không gia đình). Trong tác phẩm này ông đã nhấn mạnh đến vấn đề giáo dục văn hóa thông qua nhiều phương pháp như phương pháp nêu gương, giáo dục bằng tập thể và thông qua tập thể. Tại Hội nghị khoa học “Đẩy mạnh giá trị nhân văn, đạo đức, văn hóa quốc tế” tổ chức ở Tokyo vào tháng 2 năm 1994 với sự tham gia của 12 nước trong khu vực. 7 Hội nghị đã tổng kết kinh nghiệm và đã thống nhất đưa ra mô hình giáo dục giá trị nhân văn, đạo đức, văn hóa quốc tế gồm 8 nhóm giá trị: 1- Nhóm giá trị liên quan đến quyề con gười; 2- Nhóm giá trị liên quan đến dân chủ; 3- Nhóm giá trị liên quan đến hợp tác và hòa bình; 4- Nhóm các giá trị liên quan đến bảo vệ môi trường; 5- Nhóm giá trị liên quan đến bảo vệ di sản văn hóa; 6- Nhóm các giá trị liên quan đến bản thân và những người khác; 7- Nhóm các giá trị liên quan đến tính dân tộc; 8- Nhóm liên quan đến tâm linh Việt nam là một quốc gia với lịch sử trên 4000 năm dựng nước và giữ nước, có trên 54 dân tộc cùng chung sống.
Với bề dày lịch sử xây dựng và bảo vệ tổ quốc, sự phong phú trong đời sống vật chất, tinh thần và sự đa dạng về các tộc người cùng chung sống xen kẻ, đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau để phát triển đã tạo nên một bản sắc văn hóa Việt Nam vô cùng độc đáo. Để bảo vệ và phát huy các giá trị văn hóa ấy, nhiều Nghị quyết của Đảng, Chỉ thị của Nhà nước đã đề cập đến GD truyền thống văn hóa cho HS, sinh viên như: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (Đảng cộng sản Việt Nam, 1991, 1998). Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam, danh nhân văn hóa thế giới, trong quá trình bôn ba tìm đường cứu nước, Người đã tiếp thu và truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào với phong trào cách mạng Việt Nam, chú trọng đến việc GD bảo tồn, phát huy bản sắc văn hoá, các giá trị truyền thống của các dân tộc Việt Nam. Điều đó được thể hiện trong các tác phẩm của người (Hồ Chí Minh, 1970, 1992).
Người đã chỉ rõ những mục tiêu cơ bản mà cách mạng Việt Nam cần phải đạt được trong lĩnh vực văn hoá là: “Phải triệt để tẩy trừ mọi di tích thuộc địa và ảnh hưởng nô dịch của văn hoá đế quốc, đồng thời phát triển những truyền thống tốt đẹp của văn hoá dân tộc và hấp thụ những cái mới của văn hoá tiến bộ thế giới để xây dựng một nền văn hoá Việt Nam có tính dân tộc, khoa học và đại chúng” (Hồ Chí Minh, 1996). Quan điểm của người được thể hiện rõ ràng “Càng thấm nhuần chủ nghĩa Mác-Lênin bao nhiêu thì càng phải coi trọng những truyền thống văn hoá tốt 8 đẹp của cha ông bấy nhiêu” (Hồ Chí Minh, 1996). Người yêu cầu phải biết giữ gìn vốn văn hoá quý báu của dân tộc, khôi phục những yếu tố tích cực trong kho tàng văn hoá dân tộc, loại bỏ những yếu tố tiêu cực trong đời sống văn hoá tinh thần của nhân dân. Người nêu rõ sức mạnh đặc biệt của văn hóa đối với sự phát triển của dân tộc: “Văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi”.
Người khẳng định: Trong sự nghiệp kiến thiết đất nước, có bốn lĩnh vực cần phải coi trọng ngang nhau là kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. Đó là quan điểm nhất quán thể hiện tầm nhìn thời đại của Người mà sau này Đảng ta tiếp tục vận dụng và phát huy trong quá trình xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam (Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 2017). Trong chương trình giáo dục và đào tạo (GD&ĐT) ở các cấp học, bậc học, những giá trị bản sắc văn hóa của dân tộc đã được lựa chọn, xây dựng thành các hoạt động hữu ích và tổ chức cho người học. Bộ GD&ĐT và Bộ Văn hóa, thể thao và du lịch đã có Hướng dẫn sử dụng di sản văn hóa trong dạy học ở trường phổ thông, Trung tâm GD thường xuyên nhằm hình thành và nâng cao ý thức tôn trọng, giữ gìn, phát huy những giá trị của di sản văn hóa; rèn luyện tính chủ động, tích cực, sáng tạo trong đổi mới phương pháp học tập và rèn luyện; góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả GD, phát hiện, bồi dưỡng năng khiếu, tài năng của HS (Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Văn hóa, thể thao và du lịch, 2013).
Ngoài ra, còn có nhiều công trình nghiên cứu về văn hóa ở các góc độ tiếp cận khác nhau của nhiều tác giả, tác phẩm trong nước như “Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam" (Trần Văn Giàu, 1980), tác phẩm: “Cơ sở văn hóa Việt Nam”, "Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam" (Trần Ngọc Thêm, 1997, 2001); đã cung cấp những kiến thức, khái niệm cơ sở nền tảng cho ngành văn hóa học. Với quan điểm dân tộc học, GS. Phan Hữu Dật có tác phẩm "Góp phần nghiên cứu dân tộc học Việt Nam" (Phan Hữu Dật, 2004). Tác giả Nguyễn Hồng Hà "Văn hóa truyền thống dân tộc với GD thế hệ trẻ " (Nguyễn Hồng Hà, 2001).
Bên cạnh đó cũng có đề tài luận văn thạc sĩ của tác giả Phạm Đức Long "Biện pháp quản lí phát triển các hoạt động giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc ở Trung tâm học tập cộng đồng huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La” (Phạm Đức Long,2009). Đề tài "Nhà trường với vai trò bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống các dân tộc 9 thiểu số tỉnh Điện Biên" của sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Điện Biên (Sở Giáo dục và Đào tạo Điện Biên,2012). Hầu hết các tài liệu, công trình nghiên cứu cũng đã đề cập đến những nét văn hóa truyền thống của các dân tộc, việc bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa đó. Cũng có một số công trình nghiên cứu về việc giữ gìn văn hóa dân tộc trong giai đoạn hội nhập nhưng đối tượng không phải là giáo dục học sinh.
Luận văn thạc sỹ của tác giả Phạm Đức Long cũng đã đề cập đến vấn đề quản lí phát triển các hoạt động giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc song đối tượng ở các trung tâm học tập cộng đồng. Mặc dù có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài. Tuy nhiên, việc nghiên cứu về quản lý hoạt động GDVHDT cho HS trường PTDTNT chưa được quan tâm chú ý. Tôi hi vọng rằng, những đóng góp của đề tài “Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh ở các trường phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Sóc Trăng” góp phần nâng cao hiệu quả quản lý GDVHDT cho HS PTDTNT nói chung và PTDTNT tỉnh Sóc Trăng nói riêng.
Các khái niệm cơ bản liên quan đến vấn đề nghiên cứu 1. Trường Phổ thông dân tộc nội trú Trường PTDTNT là trường chuyên biệt nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân, được Nhà nước thành lập cho con em dân tộc thiểu số, con em gia đình các dân tộc định cư lâu dài tại vùng có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn nhằm góp phần tạo nguồn đào tạo nguồn cán bộ cho các vùng này. Điều 2 Quy chế Tổ chức hoạt động trường PTDTNT có quy định mục tiêu, vai trò và tính chất của trường PTDTNT như sau: (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2016) 1- Nhà nước thành lập trường PTDTNT cho con em các dân tộc thiểu số, con em các dân tộc định cư lâu dài tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nhằm góp phần tạo nguồn đào tạo cán bộ cho các vùng này. 2- Trường PTDTNT có vai trò quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội và củng cố an ninh, quốc phòng ở miền núi, vùng dân tộc thiểu số.
3- Trường PTDTNT là loại trường chuyên biệt mang tính chất phổ thông, dân tộc và nội trú. Giáo dục 10 John Dewey triết gia nổi bật nhất của nước Mỹ đầu thế kỷ XX theo thuyết hành dụng cho rằng, GD là “khả năng” của loài người để đảm bảo tồn tại xã hội, ông cũng cho rằng xã hội không chỉ tồn tại nhờ truyền dạy, nhưng còn tồn tại chính trong quá trình truyền dạy ấy (J. Dewey, 2008) Đa số các giáo trình GD học Việt Nam đều cho rằng “GD là hiện tượng xã hội đặc biệt, bản chất của nó là sự truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử - xã hội của các thế hệ loài người”( Phạm Viết Vượng, 2000).