CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC NẾP SỐNG VĂN HOÁ CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Văn hóa là một thuật ngữ bao gồm các hành vi xã hội, thể chế và chuẩn mực được tìm thấy trong xã hội loài người, cũng như kiến thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, luật pháp, phong tục, năng lực và thói quen của các cá nhân trong các lĩnh vực này [30]. Văn hóa thường có nguồn gốc và bị ảnh hưởng bởi mỗi khu vực hoặc vị trí cụ thể.
Do con người tiếp thu văn hóa thông qua quá trình học tập văn hóa và xã hội hóa ở các xã hội khác nhau dẫn đến sự đa dạng của các nền văn hóa giữa các xã hội. Trong cuộc sống hằng ngày, văn hóa thường được hiểu là văn học, nghệ thuật như thơ ca, mỹ thuật, sân khấu, điện ảnh. Các "trung tâm văn hóa" có ở khắp nơi chính là cách hiểu này. Một cách hiểu thông thường khác: văn hóa là cách sống bao gồm phong cách ẩm thực, trang phục, cư xử và cả đức tin, tri thức được tiếp nhận.
Với sự phát triển ngày càng cao của khoa học nhân học, những phản ánh sâu hơn về bản chất của chủ đề và các khái niệm đã dẫn đến sự nhân rộng và đa dạng hóa các định nghĩa về văn hóa. Trong tác phẩm “Văn hóa: đánh giá quan trọng về các khái niệm và định nghĩa” [31], các nhà nhân chủng học Hoa Kỳ AL Kroeber và Clyde Kluckhohn đã trích dẫn 164 định nghĩa về văn hóa, từ “hành vi học” đến “ý tưởng trong tâm trí”, “cấu trúc logic”, “thống kê ảo”, “cơ chế bảo vệ tâm linh”, v. Định nghĩa - hay quan niệm - về văn hoá được Kroeber và Kluckhohn và cũng được nhiều nhà nhân học khác ưa thích là văn hoá là một sự trừu tượng hay cụ thể hơn là “sự trừu tượng hoá từ hành vi”. Những quan niệm này có những khiếm khuyết hoặc thiếu sót.
Quan niệm về văn hóa như một sự trừu tượng, trước tiên, dẫn đến việc đặt câu hỏi về thực tế của văn hóa (mặc dù những gì trừu tượng được coi là không thể nhận thức được) và thứ hai, phủ nhận sự tồn tại của nó; do đó, chủ đề của nhân học phi sinh học, "văn hóa", được định nghĩa từ sự tồn tại, và nếu không có các sự vật và sự kiện có thực, khách quan ở thế giới bên ngoài thì không thể có khoa học. Năm 1988, Tổng giám đốc UNESCO Federico Mayor khi phát động Thập kỷ Thế giới Phát triển Văn hóa đã tiếp cận văn hóa theo nghĩa: “Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo của cá nhân và cộng đồng trong quá khứ và trong hiện tại. Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên một hệ thống các giá trị, các truyền thống và thị hiếu - những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc” [24, tr. Trong các nghiên cứu văn hóa và tính cách, các kết quả cho thấy rằng kể từ khi trẻ 6 sơ sinh của loài người bước vào thế giới, hành vi của anh ta - thái độ, giá trị của anh ta, lý tưởng và niềm tin, cũng như hoạt động vận động công khai của anh ta - chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi nền văn hóa bao quanh anh ta về mọi mặt.
Nó đủ mạnh để kiềm chế ham muốn tình dục và đạt được sự trong trắng trước hôn nhân và thậm chí là tự nguyện sống độc thân suốt đời. Nó có thể khiến một người chết vì đói, mặc dù có sẵn thức ăn nuôi dưỡng, bởi vì một số loại thực phẩm có nhãn hiệu là ô uế bởi nền văn hóa. Và nó có thể khiến một người mổ bụng hoặc tự bắn mình để xóa sạch vết nhơ của sự ô nhục. Văn hóa mạnh hơn cuộc sống và mạnh hơn cái chết.
Trong số các loài động vật dưới con người, cái chết chỉ đơn thuần là sự ngừng các quá trình quan trọng của quá trình trao đổi chất, hô hấp, v. Tuy nhiên, trong loài người, cái chết cũng chỉ là một khái niệm; chỉ có con người mới biết đến cái chết. Nhưng văn hóa chiến thắng cái chết và mang lại cho con người sự sống vĩnh cửu. Do đó, một mặt văn hóa có thể phủ nhận những thỏa mãn trong khi mặt khác nó đáp ứng những mong muốn.
Nghiên cứu về văn hóa và tính cách là nghiên cứu quan trọng, thu hút được nhiều nhà khoa học nghiên cứu. Edward Sapir được công nhận là một trong những người đầu tiên khám phá mối quan hệ giữa ngôn ngữ và nhân chủng học. Ông coi ngôn ngữ như một công cụ trong việc hình thành tâm trí con người và mô tả ngôn ngữ như một biểu tượng bằng lời nói của các mối quan hệ giữa con người với nhau. Ông được ghi nhận vì đã khám phá các mối liên hệ giữa ngôn ngữ, tính cách và hành vi xã hội và thúc đẩy ý tưởng rằng văn hóa được hiểu tốt nhất là tương đồng với tính cách [34].
Benedict đã tiến hành nghiên cứu thực địa giữa người da đỏ châu Mỹ, các xã hội châu Âu và châu Á đương đại. Tác phẩm chủ chốt của cô: “Các mẫu văn hóa” và “Hoa cúc và thanh gươm”, đã truyền bá tầm quan trọng của văn hóa trong việc hình thành nhân cách cá nhân [28, 29]. Abram Kardiner có nhiều đóng góp liên quan đến sự tác động lẫn nhau của sự phát triển nhân cách cá nhân và các nền văn hóa địa phương. Ông đã phát triển một mô hình văn hóa tâm lý cho mối quan hệ giữa việc nuôi dạy con cái, nhà ở và các loại hình tử tế trong các nền văn hóa khác nhau.
Ông phân biệt các cơ sở giáo dục chính (ví dụ như đào tạo trẻ em và cấu trúc gia đình) và các cơ sở thứ cấp (như tôn giáo và nghệ thuật). Ông giải thích rằng các cấu trúc nhân cách cơ bản trong một xã hội ảnh hưởng đến các kiểu nhân cách và ảnh hưởng nhiều hơn đến các thể chế thứ cấp. Ông cũng được chú ý vì đã nghiên cứu các mối quan hệ đối tượng và tâm lý bản ngã trong phân tâm học. Các diễn giải của ông chủ yếu được trình bày trong “Cá nhân và xã hội” [32] và “Biên giới tâm lý của xã hội” [33].
Các nghiên cứu ở Việt Nam Lịch sử đã chứng minh, trải quan mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam đã luôn đoàn kết trong đấu tranh cũng như trong lao động sản xuất. Là quốc gia có nhiều dân tộc (theo nghĩa hẹp) cùng sinh sống, mỗi dân tộc đều có nét văn hóa riêng trong nền văn hóa của dân tộc Việt Nam. Văn hoá của dân tộc Việt Nam hiện nay gồm có văn hoá truyền thống và văn hóa hiện đại. Văn hoá truyền thống của dân tộc Việt 7 Nam, giống như văn hoá truyền thống của các dân tộc khác, đều có một số yếu tích cực và một số yếu tố tiêu cực trước yêu cầu phát triển mới của xã hội hiện nay.
Vào những thập niên đầu của thế kỷ XX, Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đầu tiên khi truyền bá Chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam đã kết hợp một cách đúng đắn, sáng tạo giữa văn hóa phương Đông và phương Tây, giữa sức mạnh của dân tộc và sức mạnh thời đại. Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Người đã rất nhiều lần nhấn mạnh việc giáo dục, bảo tồn và phát triển các giá trị văn hóa truyền thống dân tộc Việt Nam. Tư tưởng ấy được thể hiện rất rõ trong các văn kiện của Đảng như: Báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II của Đảng Lao động Việt Nam, Người đã chỉ rõ những mục tiêu cơ bản mà cách mạng Việt Nam cần phải đạt được trong lĩnh vực văn hóa là: Phải triệt để tẩy trừ mọi di tích thuộc địa và ảnh hưởng nô dịch của văn hóa đế quốc, đồng thời phát triển những truyền thống tốt đẹp của văn hóa dân tộc và hấp thụ những cái mới của văn hóa tiến bộ thế giới để xây dựng một nền văn hóa Việt Nam có tính dân tộc, khoa học và đại chúng. Chủ trương trên thể hiện rõ quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về giá trị văn hóa dân tộc.
Người cho rằng càng thấm nhuần Chủ nghĩa Mác - Lênin bao nhiêu thì càng phải coi trọng những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của cha ông bấy nhiêu. Người căn dặn: “Dân ta phải biết sử ta, cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”. Người đòi hỏi phải biết giữ gìn vốn văn hóa quý báu của dân tộc, khôi phục những yếu tố tích cực trong kho tàng văn hóa dân tộc, loại bỏ những yếu tố tiêu cực trong đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân. Người cho rằng: “Cái văn hoá mới này cần phải có tính khoa học, tính đại chúng, thì mới thuận với trào lưu tiến hoá của tư tưởng hiện đại.
Nay nước ta đã được độc lập, tinh thần được giải phóng, cần phải có một nền văn hoá hợp với khoa học và hợp với cả nguyện vọng của nhân dân”. Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục các giá trị truyền thống văn hóa cho thế hệ trẻ. Ngay từ những ngày đầu bôn ba cứu nước, Người đã lập ra tổ chức Hội Việt Nam Thanh niên cách mạng để giáo dục họ. Trước lúc đi xa, trong “Di chúc” thiêng liêng, Người còn ân cần căn dặn: “Đoàn viên và thanh niên ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng hái xung phong, không ngại khó khăn, có chí tiến thủ.
Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên”. Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc làm rất quan trọng và rất cần thiết”. Theo Người, nội dung giáo dục cho thế hệ trẻ phải toàn diện, trong đó bao gồm một số nội dung chính như: Thứ nhất, giáo dục chủ nghĩa yêu nước, trong số những vấn đề cần giáo dục cho thế hệ trẻ, Hồ Chí Minh đặt lên hàng đầu vấn đề giáo dục chủ nghĩa yêu nước: “Trước hết phải yêu Tổ quốc, yêu nhân dân, phải có tinh thần dân tộc vững chắc và tinh thần quốc tế đúng đắn”; Thứ hai, giáo dục tinh thần nhân nghĩa, truyền thống đoàn kết, tương thân, tương ái; Thứ ba, khắc phục thói quen lạc hậu. Hồ Chí Minh rất chú trọng tới vai trò giáo dục của nhà trường, của ngành Giáo dục - Đào tạo.