CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC NGOÀI GIỜ LÊN LỚP THEO HƯỚNG TRẢI NGHIỆM CHO HỌC SINH Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. KHÁI QUÁT LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ. Nghiên cứu ở nước ngoài Rabơle (1494 - 1553) là một trong những đại biểu xuất sắc của chủ nghĩa nhân đạo Pháp và tư tưởng giáo dục thời kì Phục hưng. Ông đòi hỏi việc giáo dục phải bao hàm các nội dung: "trí dục, đạo đức, thể chất và thẩm mĩ và đã có sáng kiến tổ chức các hình thức giáo dục như ngoài việc học ở lớp và ở nhà, còn có các buổi tham quan các xưởng thợ, các cửa hàng, tiếp xúc với các nhà văn, các nghị sĩ, đặc biệt là mỗi tháng một lần thầy và trò về sống ở nông thôn một ngày" [16, tr.
39,40] Vào những năm 60 - 70, đất nước Liên xô đang trên con đường xây dựng Chủ nghĩa xã hội, việc giáo dục con người phát triển toàn diện được Đảng cộng sản và Nhà nước quan tâm. Các nghiên cứu về lí luận giáo dục nói chung, và hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp (HĐGDNGLL) nói riêng được đẩy mạnh. Qua việc nghiên cứu quan điểm của T.Ilina trong cuốn sách “Giáo dục học tập 3” chúng ta có thể khái quát Quản lý các hoạt động giáo dục ngoài giờ học với mục đích bổ sung và làm sâu hơn công tác giáo dục nội khóa; trước tiên, nó là phương tiện để phát hiện đầy đủ năng lực học sinh, làm thức tỉnh hứng thú và thiên hướng của các em đối với hoạt động nào đó và cũng là hình thức tổ chức giải trí cho các em, là cơ sở để quản lý việc thực tập về hành vi đạo đức để xây dựng kinh nghiệm của hành vi này [20]. Theo quan điểm của Willingham, “Hoạt động trải nghiệm được diễn ra dưới hai hình thức của sự học đó là học trải nghiệm qua cuộc sống hàng ngày, 7 đây là hình thức học không chính thức, qua công việc hàng ngày, qua thể thao,.và hình thức học tập trong khuôn khổ chính thức đó là sự trải nghiệm có chủ đích của nhà giáo dục trong quá trình đào tạo người học như chương trình làm việc, các hoạt động học tập đa dạng” [28; tr72].
Cômenxki đã áp dụng phương pháp dạy học mới, đặc biệt là việc mở rộng các hình thức học tập ngoài lớp, nhằm khơi dậy và phát huy những khả năng tiềm ẩn, nhằm rèn luyện nhân cách cho học sinh. Ông đã chứng minh cho quan điểm giáo dục mới đầy thuyết phục này và khẳng định: “ Học tập không chỉ là lĩnh hội kiến thức trong sách vở, mà còn là lĩnh hội kiến thức từ bầu trời, mặt đất, từ cây sồi, cây dẻ ” [17; tr 93]. Từ năm 1996, Hiệp hội giáo dục trải nghiệm của Canada đã tổng kết và đưa ra một số tiêu chí để đảm bảo tổ chức hoạt động trải nghiệm có chất lượng. Hiện nay, hoạt động trải nghiệm được nhiều nước phát triển quan tâm, nhất là các nước tiếp cận chương trình giáo dục phổ thông theo hướng phát triển năng lực; chú ý giáo dục nhân văn, giáo dục sáng tạo, giáo dục phẩm chất và kĩ năng sống và thường được tổ chức gắn với các hoạt động xã hội.
Tuy nhiên, theo Kolb, hoạt động trải nghiệm có 6 đặc điểm nổi bật: việc học tốt nhất cần chú trọng đến quá trình chứ không phải kết quả; học là một quá trình liên tục trên nền tảng kinh nghiệm; học tập đòi hỏi sự giải quyết xung đột giữa mô hình lí thuyết với cuộc sống thực tiễn; học tập là sự kết nối giữa con người với môi trường; học tập là quá trình kiến tạo ra tri thức, nó là kết quả của sự chuyển hóa giữa kiến thức xã hội và kiến thức cá nhân [28; tr72]. Như vậy, hệ thống giáo dục ở các nước trên thế giới, quản lý HĐGDNGLL theo hướng trải nghiệm cho học sinh rất được quan tâm vì được đánh giá là các hoạt động mang tính toàn diện, góp phần rèn luyện nhân cách, hình thành phẩm chất và kĩ năng cho người học. Muốn đạt được mục tiêu giáo dục nêu trên thì giáo dục không chỉ dừng lại ở các giờ học trên lớp mà phải 8 mở rộng thông qua các hoạt động trải nghiệm. Không chỉ bó hẹp trong không gian lớp học, nhà trường mà phải mở rộng ra xã hội, học sinh không chỉ là khách thể, mà còn là chủ thể của quá trình giáo dục.
Trong lịch sử, những nhà giáo dục tiêu biểu cho các thời kì lịch sử từ cổ đại đến hiện đại luôn thể hiện quan điểm giáo dục của mình: Học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, giáo dục nhà trường gắn liền với giáo dục gia đình và xã hội. Nghiên cứu trong nước Một số nghiên cứu của một số tác giả trong nước đề cập đến HĐGDNGLL và hoạt động trải nghiệm như: Lê Huy Hoàng (2014), Một số vấn đề hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong chưong trình giáo dục phổ thông mới, Kỉ yếu hội thảo “Hoạt động trải nghiệm sáng tạo của học sinh phổ thông", Bộ Giáo dục và Đào tạo, tr 45-49. Đinh Thị Kim Thoa (2014), Trải nghiệm sáng tạo, hoạt động quan trọng trong chương trình giáo dục phổ thông mới, Đại học Giáo dục. Đỗ Ngọc Thống (2015), Hoạt động trải nghiệm sáng tạo từ kinh, nghiệm giáo dục quốc tế và vấn đề của Việt Nam, Tạp chí Khoa học Giáo dục, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam, số 115, tr 23-27.
Nguyễn Thị Liên (chủ biên) - Nguyễn Thị Hằng - Tưởng Duy Hải - Đào Thị Ngọc Minh (2016), Tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong nhà trường phổ thông, NXB Giáo dục Việt Nam. Tác giả Hà Nhật Thăng (Chủ biên) [ 22]; [23]; [24]; [25] sách giáo viên hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp 6; 7; 8; 9 cũng đã nêu lên mục tiêu, nội dung, chương trình, phương tiện, trang bị cho việc tổ chức HĐGDNGLL, đánh giá kết quả tổ chức HĐGDNGLL của học sinh đồng thời hướng dẫn thực hiện các chủ điểm. Những năm gần đây, trên cơ sở tiếp nối thành quả trên, đã có một số Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lí giáo dục nghiên cứu về đề tài hoạt 9 động trải nghiệm, quản lý HĐGDNGLL chủ yếu là ứng dụng vào từng địa bàn nghiên cứu cụ thể, như của tác giả Nguyễn Chiến Thắng ở Gia Lai, của tác giả Trần Như Lý ở thành phố Hồ Chí Minh, của tác giả Nguyễn Tiến Dũng ở Phú Thọ. Các nghiên cứu trong và ngoài nước đã hệ thống hóa lí luận về quản lý HĐGDNGLL theo hướng trải nghiệm một cách hoàn chỉnh; đồng thời cũng đã đưa ra nhiều kinh nghiệm thực tiễn rất tốt ở những địa bàn nghiên cứu khác nhau, là cơ sở để chúng tôi tham khảo, vận dụng nghiên cứu vào đề tài.
Tuy nhiên, tại thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định cho đến nay còn ít công trình nghiên cứu chi tiết về quản lý HĐGDNGL theo hướng trải nghiệm cho học sinh ở các trường Trung học cơ sở (THCS). Do đó, nghiên cứu đề tài này có tính mới trong việc vận dụng vào một địa bàn cụ thể với những đặc trưng riêng. KHÁI NIỆM CƠ BẢN 1. Hoạt động, hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp 1.
Hoạt động Theo từ điển Triết học: Hoạt động là một phương thức đặc thù của con người quan hệ với thế giới, một quá trình qua đó con người tái sản xuất và cải tạo một cách sáng tạo thế giới tự nhiên, do đó làm cho bản thân mình trở thành chủ thể hoạt động và làm cho những hiện tượng của tự nhiên mà con người nắm được trở thành khách thể của hoạt động của mình [30]. Theo sách Giáo dục học, tập 2, 3 cũng có nêu định nghĩa về hoạt động của A. Leonchiev, qua đó chúng tôi hiểu Hoạt động là quá trình thực hiện sự chuyển hóa lẫn nhau giữa hai cực chủ thể - khách thể. Theo nghĩa rộng nó là đơn vị phân tử chứ không phải là đơn vị cộng thành của đời sống chủ thể.
Đời sống của con người là một quan hệ thống nhất các hoạt động thay thế nhau; theo nghĩa hẹp hơn, hoạt động là đơn vị của đời sống mà khâu trung gian là phản ánh tâm lý, có chức năng hướng dẫn cụ thể trong thế giới đối tượng [20]. Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp Theo Chương trình trung học cơ sở của Bộ Giáo dục và Đào tạo “Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp là những hoạt động được tổ chức ngoài giờ học của các môn học ở trên lớp. Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp là sự tiếp nối hoạt động dạy – học trên lớp, là con đường gắn lí thuyết với thực tiễn, tạo nên sự thống nhất giữa nhận thức với hành động của học sinh” [5, tr. Theo tác giả Đặng Vũ Hoạt: “Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp là việc tổ chức giáo dục thông qua hoạt động thực tiễn của học sinh về khoa học-kĩ thuật, lao động công ích, hoạt động xã hội, hoạt động nhân đạo, văn hóa văn nghệ, thẩm mĩ, thể dục thể thao, vui chơi giải trí,.
để giúp các em hình thành và phát triển nhân cách (đạo đức, năng lực, sở trường…)”[11; tr7]. Theo tài liệu bồi dưỡng phát triển năng lực nghề nghiệp giáo viên, hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp là những hoạt động giáo dục được tổ chức ngoài giờ học các môn văn hóa và là hoạt động tiếp nối hoạt động dạy học trên lớp, nhằm lôi cuốn đông đảo học sinh tham gia để mở rộng hiểu biết, tạo không khí vui tươi lành mạnh. Tạo cơ hội để học sinh rèn luyện thói quen sống trong cộng đồng và phát huy tối đa năng lực, sở trường của từng cá nhân. Ngoài ra theo Điều lệ trường THCS, trường Trung học phổ thông và trường Trung học phổ thông có nhiều cấp học thì HĐGDNGLL bao gồm các hoạt động ngoại khóa về khoa học, văn học, nghệ thuật, thể dục thể thao, an toàn giao thông, phòng chống tệ nạn xã hội, giáo dục giới tính, giáo dục pháp luật nhằm phát triển toàn diện và bồi dưỡng năng khiếu; các hoạt động vui chơi, tham quan, du lịch, giao lưu văn hóa, giáo dục môi trường, các hoạt động xã hội, từ thiện phù hợp với đặc điểm sinh lý lứa tuổi học sinh [4].
Như vậy các khái niệm đều cho thấy HĐGDNGLL có quan hệ chặt chẽ với hoạt động dạy học và các hoạt động giáo dục trong nhà trường, nhằm tạo môi trường cho người học gắn lý thuyết với thực hành, thống nhất giữa nhận 11 thức với hành động và có cơ hội trải nghiệm các hành vi ứng xử của mình.