phần mở đầu, kết luận, đề xuất, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn dự kiến đƣợc trình bày trong 3 chƣơng. Chƣơng 1: Cơ sở lý luận của các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp. Chƣơng 2: Thực trạng của công tác quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp tại các trƣờng THPT huyện An Dƣơng, thành phố Hải Phòng. Chƣơng 3: Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động ngoài giờ lên lớp theo yêu cầu đổi mới giáo dục THPT ở các trƣờng THPT huyện An Dƣơng, thành phố Hải Phòng.
11 z CHƢƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC NGOÀI GIỜ LÊN LỚP. Tổng quan nghiên cứu. Hiện nay có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến các khía cạnh khác nhau của HĐGDNGLL nhƣ vai trò, biện pháp quản lý, hình thức tổ chức, trong nhà trƣờng và ngoài nhà trƣờng ở các bậc học khác nhau nhƣ giáo dục mầm non, giáo dục tiểu học, giáo dục THCS, giáo dục THPT, giáo dục đại học. Phạm Hoàng Gia trong bài nghiên cứu: “Về hoạt động giờ học của học sinh lớp 6” [11] đã dùng phiếu mẫu điều tra, nêu 30 loại công việc, gồm 57 dạng hoạt động cụ thể, phân thành các nhóm: + Hoạt động học tập; + Hoạt động vui chơi giải trí; + Hoạt động xã hội; + Hoạt động năng khiếu cá nhân.
Theo tác giả thì các hoạt động mà các em tham gia nhiều nhất là hoạt động ngoài giờ của học sinh tập trung nhiều vào công việc dịch vụ gia đình, ít có thời gian tự học, giải trí và tham gia vào các hoạt động khác. Trong công trình nghiên cứu “Tổ chức hoạt động ngoài giờ lên lớp cho học sinh lớp 6” của tác giả Phạm Hoàng Gia đã cho thấy bằng cách tác động tới cha mẹ học sinh, các lực lƣợng giáo dục về định hƣớng giá trị và coi trọng hơn nữa kết quả học tập thì trong quá trình tổ chức hoạt động học tập, nếu lồng ghép đƣợc ý nghĩa tập thể, nhân cách của học sinh cũng đƣợc phát triển. Tác giả Nguyễn Văn Thiềm trong bài: “Mấy biện pháp giáo dục học sinh ngoài giờ lên lớp theo địa bàn dân cƣ” [30] đề cập đến vấn đề chất lƣợng giáo dục học sinh ở trƣờng giảm sút, nguyên nhân do việc giáo dục học sinh ngoài giờ lên lớp bị buông lỏng; sự phối hợp các lực lƣợng giáo dục bị coi nhẹ, bởi vậy phải hoà nhập hoạt động nhà trƣờng với địa bàn dân cƣ. Tác giả 12 z đã tổng kết ở trƣờng phổ thông cơ sở Gia Đông - Hà Bắc cho thấy nhờ sự phối hợp các lực lƣợng giáo dục ở địa bàn dân cƣ mà chất lƣợng giáo dục, chất lƣợng học tập của học sinh đƣợc nâng lên.
Tác giả Đinh Xuân Huy với nghiên cứu: “Các biện pháp quản lý HĐGDNGLL của ngƣời hiệu trƣởng trong trƣờng phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Lai Châu” [18] đã khẳng định vai trò quan trọng của việc tổ chức HĐGDNGLL đối với việc nâng cao chất lƣợng của trƣờng phổ thông dân tộc nội trú, đồng thời xây dựng đƣợc các biện pháp quản lý HĐGDNGLL của ngƣời hiệu trƣởng trong trƣờng phổ thông dân tộc nội trú nhƣ: bồi dƣỡng nhận thức, năng lực cho đội ngũ giáo viên; cải tiến công tác quản lý, hƣớng dẫn HĐGDNGLL; phối hợp các lực lƣợng tham gia. sẽ là các tác động tích cực để thúc đẩy HĐGDNGLL trong trƣờng phổ thông dân tộc nội trú phát triển, nhằm xây dựng hình thành ở học sinh những năng lực, phẩm chất tốt nhất của ngƣời cán bộ dân tộc trong tƣơng lai. Trong sự nghiệp đổi mới giáo dục, lần đầu tiên HĐGDNGLL đƣợc chính thức đƣa vào trong chƣơng trình giáo dục của nhà trƣờng phổ thông với yêu cầu thực hiện bắt buộc thống nhất toàn quốc, có sự chỉ đạo từ Bộ Giáo dục và Đào tạo tới các trƣờng. Để triển khai chƣơng trình và sách giáo viên, HĐGDNGLL ở trƣờng phổ thông, một loạt tác giả, các nhà nghiên cứu đã đề cập tới nhiều lĩnh vực khác nhau của HĐGDNGLL.
Tác giả Hà Nhật Thăng trong cuốn: “Thực hành tổ chức hoạt động giáo dục” [29] cũng đã đề cập đến sự cần thiết mục tiêu, nội dung, một số nguyên tắc tổ chức hoạt động giáo dục, hệ thống kỹ năng tổ chức hoạt động giáo dục và phƣơng pháp tổ chức hoạt động giáo dục của giáo viên chủ nhiệm lớp. Trong sách “Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp” Hà Nhật Thăng (Tổng chủ biên kiêm chủ biên) - Sách giáo viên từ lớp 6, 7, 8, 9 [25, 26, 27, 28] cũng đã nêu lên mục tiêu, nội dung chƣơng trình hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, phƣơng tiện, trang thiết bị cho việc tổ chức HĐGDNGLL, đánh giá kết quả tổ chức HĐGDNGLL của học sinh, đồng thời hƣớng dẫn thực hiện cụ thể các chủ điểm giáo dục. 13 z Nhƣ vậy, đã có rất nhiều tác giả đề cập tới vấn đề HĐGDNGLL, song còn ít tác giả đề cập đến vấn đề quản lý HĐGDNGLL ở trƣờng THPT nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục THPT hiện nay.2 Các khái niệm cơ bản của đề tài 1.1 Quản lý Khái niệm quản lý đã hình thành từ rất lâu và cùng với sự phát triển của tri thức nhân loại cũng nhƣ nhu cầu của thực tiễn nó đƣợc xây dựng và phát triển ngày càng hoàn thiện hơn. Mọi hoạt động của xã hội đều cần tới quản lý.
Quản lý vừa là khoa học, vừa là nghệ thuật trong việc điều khiển một hệ thống xã hội cả ở tầm vĩ mô và vi mô. Hoạt động quản lý là hoạt động cần thiết phải thực hiện khi những con ngƣời kết hợp với nhau trong các nhóm, các tổ chức nhằm đạt đƣợc những mục tiêu chung. Khái niệm quản lý là một khái niệm rộng, đƣợc định nghĩa theo nhiều cách khác nhau trên cơ sở các cách tiếp cận khác nhau.TS Nguyễn Thị Mỹ Lộc và TS. Nguyễn Quốc Chí thì Quản lý là: “tác động có định hƣớng, có chủ đích của chủ thể quản lý (ngƣời quản lý) đến khách thể quản lý (ngƣời bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt đƣợc mục đích tổ chức” [6, tr.
Theo GS Nguyễn Ngọc Quang “Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những ngƣời lao động nói chung là khách thể quản lý nhằm thực hiện đƣợc những mục tiêu đã dự kiến” [23, tr. Mặc dù khái niệm quản lý đƣợc diễn đạt bằng nhiều cách khác nhau, song tựu chung lại có thể hiểu nhƣ sau: - Quản lý là thuộc tính bất biến nội tại của mọi quá trình hoạt động xã hội. Hoạt động quản lý là điều kiện quan trọng để làm cho tổ chức tồn tại, vận hành và phát triển. - Quản lý là sự tác động liên tục có định hƣớng, có chủ định của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý trong một tổ chức thông qua quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra nhằm đạt đƣợc mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trƣờng.2 Quản lý giáo dục Cũng nhƣ mọi hoạt động khác của xã hội loài ngƣời, hoạt động giáo dục cũng đƣợc quản lý ngay từ khi các tổ chức giáo dục đầu tiên đƣợc hình thành.
Khoa học quản lý giáo dục trở thành một bộ phận chuyên biệt của quản lý nói chung nhƣng là một khoa học tƣơng đối độc lập vì tính đặc thù của nền giáo dục quốc dân. TS Nguyễn Quốc Chí - TS Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng: “Quản lý giáo dục là hoạt động có ý thức bằng cách vận dụng các quy luật khách quan của các cấp quản lý giáo dục tác động đến toàn bộ hệ thống giáo dục nhằm làm cho hệ thống đạt đƣợc mục tiêu của nó” [7]. - Theo GS Nguyễn Ngọc Quang, “Quản lý giáo dục là hệ thống có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành theo đƣờng lối, nguyên lý của Đảng, thể hiện tính chất của nhà trƣờng XHCN Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ; đƣa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất” [23, tr. Hệ thống giáo dục là một hệ thống mở, luôn vận động và phát triển theo quy luật chung và chịu sự quy định của điều kiện kinh tế - xã hội.
Các định nghĩa trên cũng cho thấy quản lý giáo dục luôn luôn phải đổi mới, đảm bảo tính năng động, khả năng tự điều chỉnh, thích ứng của giáo dục đối với sự vận động và phát triển chung. Tuỳ theo việc xác định đối tƣợng quản lý giáo dục mà quản lý giáo dục có nhiều cấp độ khác nhau ở tầm vĩ mô và tầm vi mô. - Cấp độ vĩ mô: “Quản lý giáo dục” là thực hiện việc quản lý trong lĩnh vực giáo dục. Ngày nay lĩnh vực giáo dục mở rộng hơn nhiều so với trƣớc, do chỗ mở rộng đối tƣợng giáo dục từ thế hệ trẻ sang ngƣời lớn và toàn bộ xã hội.
- Cấp vi mô: quản lý giáo dục là quản lý nhà trƣờng và các cơ sở giáo dục khác.3 Quản lý nhà trường Vấn đề cơ bản của quản lý giáo dục là quản lý nhà trƣờng vì nhà trƣờng là cơ sở giáo dục, nơi thực hiện mục tiêu giáo dục. Khi nghiên cứu về nội dung khái niệm quản lý giáo dục thì khái niệm trƣờng học đƣợc hiểu là tổ chức cơ sở mang tính nhà nƣớc- xã hội trực tiếp làm công tác giáo dục - đào tạo thế hệ trẻ cho tƣơng lai của đất nƣớc. Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang “Quản lý nhà trƣờng là tập hợp những tác động tối ƣu của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, học sinh và cán bộ khác, nhằm tận dụng các nguồn dự trữ do Nhà nƣớc đầu tƣ, lực lƣợng xã hội đóng góp và do lao động xây dựng vốn tự có, hƣớng vào việc đẩy mạnh mọi hoạt động của nhà trƣờng mà điểm hội tụ là quá trình đào tạo thế hệ trẻ. Thực hiện có chất lƣợng mục tiêu và kế hoạch đào tạo, đƣa nhà trƣờng tiến lên trạng thái mới” [23, tr.
Theo tác giả Phạm Viết Vƣợng: “Quản lý trƣờng học là lao động của các cơ quan quản lý nhằm tập hợp và tổ chức lao động của giáo viên, học sinh và các lực lƣợng giáo dục khác cũng nhƣ phát huy tối đa các nguồn lực giáo dục để nâng cao chất lƣợng giáo dục và đào tạo trong nhà trƣờng” [37, tr.