Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC NGĂN CHẶN TRUYỀN ĐẠO TRÁI PHÉP VÀO NHÀ TRƯỜNG Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu ở nước ngoài Khoảng thập niên 60 của thế kỷ XX ở Châu Âu và Châu Mỹ, các hiện tượng tôn giáo mới (còn gọi là các phong trào tôn giáo mới/New Religious Movements, hoặc các giáo phái, một số đạo trái phép.) đã xuất hiện và ảnh hưởng, tác động không nhỏ đến nhận thức, hành vi, tư tưởng, đạo đức của một bộ phận người dân tham gia hay trở thành tín đồ của tôn giáo đó. [8] Xuất hiện với nhiều đặc tính mới lạ, dị biệt, ngoại lai và đôi khi có những hành động cực đoan, các hiện tượng tôn giáo mới mang lại nhiều thách thức đối với xã hội và không gian tôn giáo nói chung, chính phủ hầu hết các nước trên thế giới nói riêng.
Mặc dù ở các nước phát triển, xã hội hay các tổ chức tôn giáo đạt đến trình độ tự quản cao, nhưng thách thức mà hiện tượng tôn giáo mới mang lại vẫn buộc phải có sự can thiệp hay hiện diện của cơ quan công quyền một cách chủ động. [8] Theo các nhà nghiên cứu thế giới “đạo lạ”, “hiện tượng tôn giáo mới” hay “phong trào tôn giáo mới”, “đạo lạ”, “đạo trái phép”, “tà đạo” đã có không ít tác động tiêu cực đến nhiều mặt của xã hội. [8] Tác giả Hoàng Văn Chung đã có tổng hợp những nghiên cứu của các nhà nghiên cứu về vấn đề xã hội và tôn giáo ở nước ngoài và cho thấy, ở các nước Phương Tây, phần lớn người theo các hiện tượng tôn giáo mới là thanh niên, thanh niên trẻ có học thức. Cáo buộc về “tẩy não” hay “mê hoặc tâm lý” hoặc “niềm tin có tính bệnh lý” (pathological belief) thường xuất phát từ phụ huynh quan ngại về chuyện con em mình bị lôi cuốn vào các loại hình tôn giáo chưa rõ nguồn gốc, bỏ bê học hành, lệch lạc về tâm lý, đánh mất cơ hội về học hành và tương lai mờ mịt.
Nhiều thanh niên trở thành các nhà gây quỹ đường phố hoặc sống quần tụ trong những không gian chật hẹp cùng nhiều người chưa kết hôn khác. Một số phụ huynh đã kiện các hiện tượng tôn giáo mới ra tòa theo các cáo buộc này. Ở Mỹ, từ những năm 1970, Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn c theo James T. Richardson, nhà nước rất khó can thiệp trực tiếp vào các hiện tượng tôn giáo mới do hiến pháp nước này quy định về tự do tôn giáo và vị trí của nhà nước.
Sự can thiệp gián tiếp của nhà nước chỉ có thể thấy qua hệ thống tòa án. Việc dùng hệ thống tòa án để chống lại các hiện tượng tôn giáo mới ở Mỹ đầu tiên xuất hiện khi các bậc phụ huynh có con em theo các hiện tượng này tìm cách đạt được quyền bảo hộ tạm thời. Việc này tạo điều kiện cho các bậc phụ huynh có quyền hợp pháp để kiểm soát con em của mình và sự hỗ trợ về thực thi luật pháp nhằm đưa chúng trở lại cuộc sống bình thường. Theo luật chung ở Mỹ, từ 18 tuổi, thanh niên có thể sống hoàn toàn tự lập.
Quyền bảo hộ tạm thời chỉ có thể được trao cho phụ huynh theo quyết định của tòa án trong trường hợp con em của họ được cho là cần phải có sự giám sát, bảo trợ dù đã qua 18 tuổi. Các hiện tượng tôn giáo mới còn có những vấn đề pháp lý liên quan đến trẻ em như ảnh hưởng về tôn giáo, giáo dục hay bị lạm dụng. Ngoài ra, đôi khi một hiện tượng tôn giáo mới cũng bị buộc tội về lạm dụng trẻ em, dù chứng cứ chưa rõ ràng. [8] Ở Pháp, Chính phủ Pháp luôn thường xuyên từ chối các nhóm thiểu số cả về tộc người, ngôn ngữ hay tôn giáo.
Luật pháp của Pháp chỉ công nhận tự do cá nhân và chính phủ không cho rằng, tự do cá nhân được đảm bảo khi tham gia các hội nhóm. Trong khi thảo luận về luật pháp chung cho Châu Âu, Hội đồng hiến pháp Pháp khẳng định, Pháp là một quốc gia cộng hòa thế tục trung tính, cấm “bất cứ ai lợi dụng lợi dụng hình thức tôn giáo của mình vào mục đích tránh tuân thủ các quy định chung chi phối mối quan hệ giữa các cơ quan công quyền và các cá nhân”. Đây chính là cơ sở pháp lý để Pháp từ chối công nhận và cho tôn giáo lạ, mới được tồn tại và hoạt động tại đất nước này. [8] Như vậy, những nghiên cứu trên đây đã đề cập đến những tác động của đạo lạ đối với lứa tuổi học đường, thanh thiếu niên rất dễ bị ảnh hưởng và chịu tác động tư tưởng, tâm lý của các tôn giáo, các đạo lạ, không chính thống và nó thực sự nguy hại đến sự hình thành và phát triển nhân cách của các em và dẫn đến cả những hành vi tiêu cực đối với bản thân và xã hội.
Tuy nhiên, hiện tại vẫn chưa có những nghiên cứu về quản lý HĐGD ngăn chặn truyền đạo trái phép vào trường học. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc. Những nghiên cứu ở trong nước Trong tạp chí Nghiên cứu tôn giáo số 9- 2008 của tác giả Phạm Văn Phóng và Nguyễn Văn Nhụ đã có bài viết: “Nhìn nhận về đạo lạ ở nước ta trong những năm gần đây”. Bài viết đã có những nhận xét khách quan về tác hại của đạo lạ có ảnh hưởng xấu đến mọi mặt của đời sống xã hội, đặc biệt là có những tổ chức đã gửi thư ngỏ, kêu gọi, xúi giục các em học sinh tham gia, gây hoang mang trong gia đình.
Công an tỉnh Cao Bằng đã nghiên cứu đề tài: “Tôn giáo ở Cao Bằng và những vấn đề đặt ra với công tác đảm bảo an ninh trật tự năm 2017”. Trong đề tài đã đề cập đến những mối nguy hại của các hoạt động chống phá an ninh, trật tự xã hội ở các vùng có bà con dân tộc thiểu số sinh sống và đề ra các biện pháp đối phó trong tình hình mới [9]. Tác giả Nguyễn Thị Hải Yến [30] “Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho thanh niên giai đoạn hiện nay” và tác giả Trần Thị Loan [13] trong luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục “Giáo dục chính trị, tư tưởng cho học sinh các trường THPT của huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa thông qua dạy học môn GDCD” đã góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận cũng như thực tiễn về tình hình công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho thanh niên Việt Nam, nêu lên vai trò của thanh niên trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, các tác giả cũng đề cập đến những giải pháp quan trọng, có tính khả thi nhằm nâng cao chất lượng hiệu quả công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho HS THPT trong giai đoạn hiện nay. Viện Khoa học giáo dục Việt Nam và ban điều hành đề án 1928 đã xuất bản tài liệu về giáo dục pháp luật trong môn GDCD có đề cập đến vấn đề tôn giáo dành cho HS THPT do tác giả Lưu Thu Thủy chủ biên.
[26] Tác giả Vương Đình Đặng Lục (chủ biên) “Giáo dục pháp luật trong nhà trường” đã nêu rõ được tầm quan trọng của công tác giáo dục pháp luật trong nhà trường THPT và định hướng những nội dung cơ bản trong chương trình. [16] Vụ phổ biến, giáo dục pháp luật cũng đã soạn cuốn “Tài liệu hướng dẫn bồi dưỡng kiến thức pháp luật cho GV môn GDCD cấp THPT” cung cấp cho GV có những tài liệu cần thiết trong công tác giảng dạy bộ môn này trong nhà trường. [25] Tất cả các tài liệu, nghiên cứu về giáo dục chính trị, tư tưởng đạo đức hay truyền đạo trái phép đều thống nhất quan điểm, đạo trái phép có ảnh hưởng không Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn c nhỏ đến sự hình thành nhân cách, tư tưởng, đạo đức của học sinh dẫn đến những nhận thức, hành động sai trái của thế hệ trẻ. Vì vậy, việc phòng ngừa các đạo lạ, trái phép du nhập học đường và giáo dục cho HS ở trường THPT một lý tưởng, có nhân sinh quan đứng đắn, đạo đức trong sáng là một việc làm cần thiết trong giai đoạn hiện nay.
Tuy nhiên, các nghiên cứu đều có số lượng rất ít và đa số tập trung vào việc phân tích việc giáo dục tư tưởng, chính trị cho học sinh và nhân dân chứ chưa đề ra các biện pháp, các HĐGD nhằm ngăn chặn truyền đạo trái phép vào các trường THPT hiện nay. Một số khái niệm cơ bản 1. Tôn giáo, Đạo 1. Tôn giáo Tác giả Đặng Nghiêm Vạn đã nhận định trong cuốn “Lý luận tôn giáo và vấn đề tôn giáo ở Việt Nam” về khái niệm Tôn giáo.
“Tôn giáo” là một thuật ngữ không thuần Việt, được du nhập từ nước ngoài vào từ cuối thế kỷ XIX. Xét về nội dung, thuật ngữ Tôn giáo khó có thể hàm chứa được tất cả nội dung đầy đủ của nó từ cổ đến kim, từ Đông sang Tây. Thuật ngữ “Tôn giáo” vốn có nguồn gốc từ phương Tây và bản thân nó cũng có một quá trình biến đổi nội dung và khi khái niệm này trở thành phổ quát trên toàn thế giới thì lại vấp phải những khái niệm truyền thống không tương ứng của những cư dân thuộc các nền văn minh khác, vì vậy trên thực tế đã xuất hiện rất nhiều quan niệm, định nghĩa khác nhau về tôn giáo của nhiều dân tộc và nhiều tác giả trên thế giới. Thuật ngữ Tông giáo được du nhập vào Việt Nam từ cuối thế kỷ XIX, nhưng do kỵ húy của vua Thiệu Trị nên được gọi là “Tôn giáo”.
Là một từ có nguồn gốc từ phương Tây, trước khi du nhập vào Việt Nam, tại Việt Nam cũng có những từ tương đồng với từ Tôn giáo, như: Khái niệm tôn giáo là một vấn đề được giới nghiên cứu về tôn giáo bàn cãi rất nhiều. Trong lịch sử đã từng tồn tại rất nhiều quan niệm khác nhau về tôn giáo: Các nhà thần học cho rằng “Tôn giáo là mối liên hệ giữa thần thánh và con người”. Khái niệm mang dấu hiệu đặc trưng của tôn giáo: “Tôn giáo là niềm tin vào cái siêu nhiên”. Một số nhà tâm lý học lại cho rằng: “Tôn giáo là sự sáng tạo của mỗi cá nhân trong nỗi cô đơn của mình, tôn giáo là sự cô đơn, nếu anh chưa từng cô đơn thì anh chưa bao giờ có tôn giáo” [26].