Chương 1: Cơ sở lí luận về quản lý hoạt động giáo dục kĩ năng hợp tác cho học sinh trường trung học cơ sở. Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục kĩ năng hợp tác cho học sinh trường trung học cơ sở huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam. Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục kĩ năng hợp tác cho học sinh trường trung học cơ sở huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam. 4 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KĨ NĂNG HỢP TÁC CHO HỌC SINH TRƢỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1.
T n qu n n h n uv n ề Trên thế giới, kĩ năng là vấn đề được quan tâm nghiên cứu từ rất sớm. Nhà bác học Hy lạp Aristot (384-322 TCN), trong cuốn “Bàn về tâm hồn” đã coi kĩ năng làm việc là một trong ba bộ phận cấu thành phẩm hạnh con người khi ông xác định ba nội dung của phẩm hạnh là: biết định hướng, biết làm việc, biết tìm tòi. Tuy nhiên, trước thế kỉ XIX vấn đề kĩ năng chưa được nghiên cứu một cách có hệ thống, từ cuối thế kỉ XIX trở lại đây, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của các ngành khoa học trong đó có tâm lí học, vấn đề kĩ năng được quan tâm nghiên cứu một cách khoa học và nhiều hơn. Quan điểm hợp tác trong giáo dục cũng được đề cập đến từ lâu và đã được áp dụng ở các nước phương Tây khoảng từ cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX.bel và các thầy giáo Lancasto, Girard đã đưa ra hình thức dạy học tương trợ.
Với hình thức này, người học được chia ra thành các nhóm nhỏ và do các học sinh lớp trên hướng dẫn. Cách làm này có nhiều ý kiến cho rằng không đảm bảo chất lượng dạy và giáo dục, không tạo ra sự phát triển trí tuệ và cá tính của người học. Tuy nhiên đây cũng là cách làm tạo nên tính hợp tác giữa các thành viên. Cũng vào khoảng cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX, Andrew Bell và Joseph Lancaster người Anh đã tổ chức dạy học theo nhóm nhỏ, chia học sinh thành từng nhóm nhỏ để hoạt động.
Thông qua hoạt động nhóm, người học cùng trao đổi, chia sẻ giúp nhau tìm hiểu, khám phá vấn đề và đạt kết quả học tập tốt. Ý tưởng này nhanh chóng lan tỏa từ Anh sang Mỹ và được hưởng ứng, phát triển rộng rãi bởi những nhà giáo dục tiên phong như Jons Dewey, Roger Parker, Morton Deutch. Theo Jons Dewey quá trình dạy học hướng 5 vào người học cần đảm bảo cho người học phân tích những kinh nghiệm của mình, khuyến khích người học biết tự chủ động, tự chịu trách nhiệm nhiều hơn thay vì việc xử lí những sự việc, sự kiện theo lời nói của thầy. Kĩ năng hợp tác được tích luỹ không phải bằng luyện tập mà bằng hoạt động, học sinh tự tiến hành để đáp ứng nhu cầu lợi ích của chính những tình thế và những nhiệm vụ của hiện tại được giải quyết chứ không phải thụ động chờ đợi những yêu cầu và những vấn đề của tương lai.
Năm 1940, Morton Deutch đưa ra lí thuyết về các tình huống hợp tác và cạnh tranh, tác giả đã xây dựng các tình huống đòi hỏi người học phải tăng cường hợp tác và cạnh tranh lành mạnh giữa học sinh với học sinh, giữa nhóm với nhóm, qua đó thực hiện mục tiêu đề ra. Nền giáo dục Nhật Bản, ngay từ bậc tiểu học hầu hết thời gian học sinh được học tập và làm việc theo nhóm. Trong giờ học học sinh được phép đứng lên, tự do đi lại xung quanh lớp ngay cả khi tiết học đang diễn ra và hầu như có thể làm mọi việc, trừ những việc gây nguy hiểm. Những biểu hiện này hoàn toàn trái với những suy nghĩ cũng như khuôn mẫu trước đây.
Tuy nhiên, những bất ngờ đó đều nằm trong chuỗi chính sách có chủ đích của chính phủ Nhật Bản áp dụng cho học sinh. Thay vì dành những năm tháng đầu tiên của bậc tiểu học rèn giũa học sinh về tầm quan trọng của việc làm theo đúng chỉ dẫn của giáo viên, người Nhật cho rằng đây là quãng thời gian để các em tự nhận ra những gì phù hợp và mình yêu thích. Bên cạnh đó, ngay ở bậc tiểu học việc hướng các em vào hoạt động nhóm cũng luôn được ưu tiên, hầu hết hoạt động của học sinh tiểu học được tổ chức theo các nhóm nhỏ, vì thế, học tập dường như trở thành hoạt động tự nhiên mang tính xã hội. Khi một học sinh không tham gia vào các hoạt động, giáo viên sẽ nhẹ nhàng nhắc nhở khiến các học sinh khác trong đội quan tâm và yêu cầu người bạn trở nên tích cực hơn vì lợi ích chung của nhóm.
Trên bậc tiểu học, học sinh phải tham gia vào các câu lạc bộ để học cách hoạt động nhóm, thông qua đó rèn cho trẻ tinh 6 thần tập thể, thúc đẩy trẻ phát triển, khám phá bản thân và khám phá cuộc sống. Những hoạt động này còn giúp trẻ tạo được mối quan hệ gắn bó với bạn bè và thầy cô, rèn luyện được kĩ năng giao tiếp, ứng xử… Quá trình hoạt động sẽ phát sinh nhiều tình huống để trẻ thực hành cách xử lí, thông qua đó thầy cô sẽ nắm được tính cách của trẻ để kịp thời động viên hoặc uốn nắn. Cách giáo dục này khiến trẻ em ý thức rằng chúng là thành phần cần thiết của nhóm và tự hào khi đạt được thành tựu với tư cách nhóm. Những cảm xúc và niềm tin này rất quan trọng trong xã hội Nhật Bản, nó sẽ theo mỗi cá nhân suốt cuộc đời.
Quan điểm giáo dục trên đây cho thấy việc giáo dục kĩ năng hợp tác cho người học luôn phù hợp với xu thế thời đại. Người học phải chủ động trong việc tìm ra kiến thức, kinh nghiệm cho bản thân mà không đợi được truyền thụ kiến thức một cách thụ động từ người dạy. Vào đầu thập kỷ 90, các tổ chức của Liên hiệp quốc như WHO, UNICEF, UNESCO đã chung sức xây dựng chương trình giáo dục kĩ năng sống cho thanh thiếu niên vì những thử thách mà trẻ em và thanh niên phải đối mặt là rất nhiều và đòi hỏi cao hơn là những kĩ năng đọc, viết, tính toán tốt nhất. Ở Việt Nam, từ khi hình thành nền giáo dục cách mạng, phương châm giáo dục là "học đi đôi với hành", "giáo dục nhà trường gắn liền với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội"; mục tiêu giáo dục của nền giáo dục cách mạng là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài.
Mục tiêu của mỗi hoạt động giáo dục luôn được xác định trong từng tiết học hoặc hoạt động giáo dục với những yêu cầu cần đạt về kiến thức, kĩ năng, thái độ. Tuy nhiên trong thực tiễn giảng dạy thì kĩ năng được đặt ra chủ yếu là kĩ năng vận dụng kiến thức để làm bài tập thực hành vận dụng, giải quyết những vấn đề liên quan đến bài học, ít liên quan đến việc vận dụng kiến thức để giải quyết những vấn đề thực tiễn. Vấn đề giáo dục kĩ năng cho học sinh trường phổ thông được ngành 7 GD&ĐT đặt ra khoảng từ năm 2000 trở lại đây thông qua các văn bản hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ mỗi năm học của Bộ GD&ĐT. Biểu hiện cơ bản là việc thực hiện giáo dục tích hợp liên môn để giải quyết các vấn đề thực tiễn, sự thay đổi phương pháp và kĩ thuật dạy học, việc đánh giá xếp loại học sinh.
Những định hướng này nhằm chuẩn bị cho việc thực hiện lộ trình đổi mới căn bản và toàn diện GDPT. Những năm gần đây, Bộ GD&ĐT chỉ đạo toàn ngành tăng cường thực hiện giáo dục kĩ năng sống cho học sinh. Việc giáo dục kĩ năng sống được thực hiện tích hợp qua các môn học, các hoạt động giáo dục, các hoạt động trải nghiệm. Tuy nhiên việc xác định cụ thể các kĩ năng cần giáo dục cho học sinh phổ thông cũng chưa được quy định cụ thể.
Việc xác định các kĩ năng chủ yếu do mỗi nhà trường căn cứ vào thực tiễn và các nguồn tài liệu để làm cơ sở giáo dục cho học sinh. Những kĩ năng chủ yếu được xác định là: kĩ năng tự nhận thức, kĩ năng xác định giá trị, kĩ năng kiểm soát cảm xúc, kĩ năng ứng phó với căng thẳng, kĩ năng tìm kiếm sự hỗ trợ, kĩ năng thể hiện sự tự tin, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng lắng nghe tích cực, kĩ năng thể hiện sự cảm thông, kĩ năng thương lượng, kĩ năng giải quyết mâu thuẫn, kĩ năng hợp tác, kĩ năng tư duy phê phán. Chương trình GDPT 2018 đặt ra mục tiêu hình thành, phát triển năng lực và phẩm chất cho học sinh, trong đó năng lực giao tiếp và hợp tác được xác định là một năng lực chung mà giáo dục cần hướng đến. Những nghiên cứu ở trong nước về giáo dục kĩ năng hợp tác cho học sinh phổ thông cũng được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu thể hiện trong các công trình nghiên cứu hoặc những đề tài luận văn, luận án, tiêu biểu là: Tác giả Nguyễn Thanh Bình (1998) với đề tài “Cải tiến tổ chức hoạt động ngoài giờ lên lớp trong trường trung học cơ sở theo phương thức hợp tác” đã đề xuất cải tiến việc tổ chức hoạt động NGLL trên cơ sở tăng cường sự hợp tác giữa giáo viên với học sinh và giữa học sinh với nhau.
Theo tác giả 8 phương thức tổ chức các hoạt động GD theo kiểu hợp tác là một con đường thể hiện quan điểm "hướng vào người học" hay "phương pháp tích cực" cần được quán triệt trong toàn bộ các hoạt động giáo dục trong nhà trường theo tinh thần đổi mới. Nếu các hoạt động GD trong nhà trường được thiết kế theo phương thức hợp tác, trong đó tương tác giữa giáo viên và học sinh được cải tiến theo nguyên tắc phát huy vai trò chủ thể, tính tích cực sáng tạo của học sinh bằng cách lôi cuốn các em tham gia vào mọi khâu của quá trình hoạt động, còn quan hệ giữa học sinh với học sinh trong hoạt động được tổ chức theo nhóm nhỏ mang tính phụ thuộc tích cực trên cơ sở trách nhiệm cá nhân và quan hệ chia sẻ, giúp đỡ lẫn nhau. thì sẽ làm cho hoạt động GD đa dạng, trở nên hấp dẫn và có hiệu quả hơn. Trong đề tài này, tác giả còn đưa ra một số loại hình hoạt động giáo dục theo phương thức hợp tác.
Tác giả Đặng Thành Hưng (2010) khi nói về dạy học hiện đại đã đề cập đến nhóm hợp tác và dạy học hợp tác.