Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh theo định hướng giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trung học cơ sở. Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh theo định hướng giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trung học cơ sở thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ. Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh theo định hướng giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trung học cơ sở thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ. 6 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐOÀN THANH NIÊN CỘNG SẢN HỒ CHÍ MINH THEO ĐỊNH HƢỚNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ 1.
Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu trên thế giới Trong cuốn sách“Chương trình giảng dạy kĩ năng sống”(Life Skill Education and Curriculum, 2006) tác giả Gracious Thomas nhấn mạnh vai trò của giáo viên nhằm giáo dục kĩ năng giữ an toàn cho trẻ dựa vào hệ thống giá trị cho công tác phòng, chống nhiễm HIV/AIDS. Ngoài việc phát triển một kế hoạch khả thi của hành động, tác giả cũng đã phát triển một chương trình có thể được điều chỉnh bởi hệ thống giáo dục trong nước [2]. Tác giả Diane Till Man trong cuốn “Những giá trị sống cho tuổi trẻ”, “Giáo dục các giá trị sống để có kỹ năng sống ngày càng được nhìn nhận là có sức mạnh vượt lên khỏi lời răn dạy đạo đức chi tiết đến mức hạn chế trong cách nhìn hoặc những vấn đề thuộc về tư cách công dân.
Nó đang xem là trung tâm của tất cả thành quả mà giáo viên và nhà trường tâm huyết có thể hy vọng đạt được thông qua việc dạy về giá trị, kỹ năng sống” [7]. Tổ chức văn hóa khoa học và giáo dục Liên hợp quốc (UNESCO) đã đưa ra nguyên tắc cơ bản để định hướng giáo dục kỹ năng sống trong thực tiễn: “Tất cả thế hệ trẻ và người lớn có quyền hưởng lợi từ một nền giáo dục chứa đựng các hợp phần học để biết, học để làm, học để chung sống với mọi người và học để khẳng định mình. Giáo dục hướng vào yêu cầu bồi dưỡng năng khiếu tiềm năng và phát triển cá tính người học cần quan tâm kết hợp kỹ năng thực hành và các khả năng tâm lí xã hội, đánh giá chất lượng giáo dục 7 phải bao hàm đánh giá mức độ đạt được các kỹ năng sống và tác dụng của kỹ năng sống đối với xã hội và cá nhân” [4]. Diễn đàn Thế giới về giáo dục cho mọi người (tại Dakar, thủ đô Senegan năm 2000) đã thông qua Kế hoạch hành động Giáo dục cho mọi người - gọi tắt là Kế hoạch Dakar, bao gồm 6 mục tiêu.
Trong đó, Mục tiêu 3 nêu rõ: Mỗi quốc gia phải đảm bảo cho người học tiếp cận chương trình giáo dục kỹ năng sống phù hợp [5]. Hội nghị Thế giới về sự sống còn, bảo vệ và phát triển của trẻ em, họp ngày 20 - 30/03/1990 tại trụ sở Liên hợp quốc ở New York đã tuyên bố: “Tất cả trẻ em trên thế giới đều trong trắng, dễ bị tổn thương và còn phụ thuộc. Đồng thời các em ham hiểu biết, ham hoạt động và đầy ước vọng. Tuổi của các em phải được sống trong vui tươi, thanh bình, được chơi, được học và phát triển.
Tương lai của các em phải được hình thành trong sự hoà hợp và hợp tác” [6]. Nhận định trên muốn nhấn mạnh đến nhiệm vụ học tập, môi trường học tập dành cho trẻ em cần phải được quan tâm đúng cách. Học sinh đến trường không chỉ học để có tri thức mà cần phải biết cách học để có sức khoẻ, có kỹ năng nghề nghiệp, có những giá trị đạo đức, thẩm mỹ, nhân văn đúng đắn vừa mang tính cá nhân vừa mang tính xã hội, vừa đậm đà bản sắc dân tộc lại vừa mang tính phổ quát toàn cầu,. tức là mỗi học sinh luôn phải học, tự học những kỹ năng nhất định trong môi trường thích hợp để tồn tại và phát triển.
Các nghiên cứu ở Việt Nam Tác giả Nguyễn Thanh Bình trong cuốn “Giáo trình Giáo dục kỹ năng sống” [2] khẳng định rằng về yêu cầu cụ thể đổi mới chương trình nội dung và phương pháp. Trong đó: “Cốt lõi của việc đổi mới phương pháp dạy học là hướng vào học tập chủ động, chống thói quen thụ động, đồng thời coi dạy học thông qua tổ chức hoạt động của học sinh là đặc trưng thứ nhất của phương pháp dạy học tích cực”. Tác giả cũng khái quát rằng: Do nhận thức, thiếu 8 nguồn nhân lực và kinh nghiệm nên việc triển khai kỹ năng sống một cách có ý thức, có hệ thống và hiệu quả ở Việt Nam còn hạn chế. Đối tượng được tiếp cận chương trình kỹ năng sống còn hạn hẹp.
Trong lĩnh vực giáo dục chính quy (Bậc phổ thông) việc kỹ năng sống cho người học còn mờ nhạt. Tác giả Nguyễn Dục Quang trong cuốn “Hướng dẫn thực hiện giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trung học phổ thông” [20] cho rằng: “Cách thức giáo dục kỹ năng sống được hiểu bao gồm những phương pháp tiếp cận, các phương pháp dạy học tích cực và các hình thức tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng sống cần quan tâm đến vai trò của người học”. Bắt đầu từ năm 2008 xuất hiện Mô hình “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” nhằm khắc phục tính thụ động, phát huy tính chủ động, sáng tạo của học sinh trong học tập và các hoạt động xã hội. Một trong những nội dung rất được chú ý là đưa kỹ năng sống vào phương pháp dạy học mới phù hợp với từng lứa tuổi giúp các em tự tin trong học tập, tổ chức các hoạt động tập thể như các hoạt động do Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh tổ chức khuyến khích các em tham gia chủ động, tự giác từ đó rèn kỹ năng ứng xử hợp lí với các tình huống trong cuộc sống và sinh hoạt [9].
Tác giả Phạm Đình Hiệp, Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống thông qua hoạt động Đoàn ở các trường trung học phổ thông huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương, luận văn thạc sĩ Quản lý giáo dục đã tập trung đánh giá những ưu điểm, hạn chế của công tác quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống thông qua hoạt động của Đoàn thanh niên, trên cơ sở đó, tác giá đề xuất một số biện pháp để tiếp tục thực hiện hiệu quả công tác quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống thông qua hoạt động đoàn ở các trường trung học phổ thông huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương. Nhìn chung, các công trình đã tiếp cận vấn đề giáo dục kỹ năng sống cho học sinh ở nhiều góc độ khác nhau. Có công trình đã đánh giá thực trạng quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh thông qua các hoạt động 9 của đoàn thanh niên, tuy nhiên chưa có một công trình nào trực tiếp nghiên cứu về Quản lý hoạt động Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh theo định hướng giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trung học cơ sở thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ. Một số khái niệm cơ bản của đề tài 1.
Quản lý Khái niệm “quản lý” được hình thành từ rất lâu và cùng với sự phát triển của tri thức nhân loại cũng như nhu cầu của thực tiễn nó được xây dựng và phát triển ngày càng hoàn thiện hơn. Mọi hoạt động của xã hội đều cần tới quản lý. Hoạt động quản lý là hoạt động cần thiết phải thực hiện khi những con người kết hợp với nhau trong các nhóm, các tổ chức nhằm đạt mục tiêu chung. Chính vì thế quản lý được hiểu bằng nhiều cách khác nhau trên cơ sở những quan điểm và các cách tiếp cận khác nhau.
Từ xưa trong lịch sử loài người đã ra đời một dạng lao động mang tính đặc thù, đó là lao động nhằm để tổ chức, điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định, là lao động ban đầu nhằm để quản lý con người và sau đó là quản lý xã hội, dạng lao động đặc thù đó được gọi là hoạt động quản lý. Theo Từ điển Tiếng Việt thông dụng thì định nghĩa “Quản lý là tổ chức, điều khiển hoạt động của một đơn vị, cơ quan”. Harold Koontz khẳng định: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nổ lực hoạt động cá nhân nhằm đạt được các mục đích của tổ chức. Mục tiêu của quản lý là hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của tổ chức với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất”.
Xét quản lý với tư cách là một hành động, PGS. TSKH Vũ Ngọc Hải định nghĩa: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra”. Theo cách tiếp cận theo thực tiễn: Trên cơ sở phân tích quản lý bằng 10 cách nghiên cứu kinh nghiệm qua các trường hợp cụ thể. Từ việc nghiên cứu những trường hợp thành công hoặc thất bại, sai lầm ở các trường hợp cá biệt của những người quản lý cũng như dự định của họ để giải quyết những vấn đề đặc trưng, để từ đó giúp họ hiểu được phải làm như thế nào để quản lý có hiệu quả trong những hoàn cảnh tương tự.
Cách tiếp cận theo lý thuyết hệ thống: Cách tiếp cận này cho phép xem xét các hoạt động quản lý như một hệ thống hoàn chỉnh bao gồm những yếu tố và mối liên hệ tương tác giữa các nhân tố để đạt được mục tiêu đã xác định Cách tiếp cận theo thuyết hành vi: Dựa trên những ý tưởng cho rằng quản lý là làm cho công việc hoàn thành thông qua con người. Do vậy, việc nghiên cứu nên tập trung vào mối quan hệ giữa người với người. Như vậy, từ những khái niệm, quan điểm và các cách tiếp cận trên, có thể tóm lược chung: Quản lý là sự tác động có mục đích, có tổ chức, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng và khách thể quản lý nhằm sử dụng hiệu quả các nguồn lực để cùng thực hiện thành công nhiệm vụ, mục tiêu dự kiến đề ra.