Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN VẬT LÝ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Hoạt động dạy học Dạy học là một quá trình hoạt động hai mặt do người dạy - thầy cô giáo và người học – học sinh nhằm thực hiện những mục đích dạy học [39]; Bao gồm toàn bộ các công tác có tổ chức và có định hướng nhằm giúp cho người học từng bước có được năng lực tư duy và năng lực hành động với mục đích lĩnh hội các giá trị tinh thần, các hiểu biết, kỹ năng nắm bắt vấn đề, những giá trị văn hóa mà nhân loại đã đạt được để giải quyết vấn đề mà thực tiễn đặt ra trong toàn bộ đời sống của mỗi cá nhân học sinh. Dạy học là một quá trình thống nhất biện chứng của hai thành tố cơ bản trong quá trình dạy học đó là hoạt động dạy và hoạt động học.
Dạy và học là hai hoạt động luôn phối hợp và tác động với nhau. Quá trình dạy học sẽ không thể diễn ra nếu thiếu một trong hai hoạt động trên [30]. Dạy học đòi hỏi sự sáng tạo nhằm làm cho quá trình dạy học phải đảm bảo được lí luận phải đi đôi với hoạt động thực tiễn. Đồng thời nhiệm vụ dạy học trong mỗi trường học không chỉ đảm bảo cho mỗi học sinh có được trình độ văn hóa nhất định mà còn góp phần hình thành và phát triển nhân cách của họ [26].
Tính tích cực hóa trong hoạt động nhận thức của học sinh là một hướng giảng dạy của người giáo viên trong việc soạn thảo và sử dụng nội dung, hình thức, phương tiện trong quá trình dạy học nhằm giúp cho học sinh có hứng thú đối với môn học, tính tích cực tự giác, sáng tạo của học sinh trong quá trình lĩnh hội tri thức, hình thành kỹ năng, kỹ xảo và vận dụng chúng vào trong hoạt động thực tiễn. Việc xác định đưa nội dung vào giảng dạy cần đảm bảo tính kế tục của tri thức mới trên cơ sở tri thức đã biết giúp quá trình nhận thức phát triển diễn ra thuận lợi, theo chiều xoáy trôn ốc [31]. Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn hoạt động dạy học được hiểu là: Hoạt động dạy học là hoạt động được thực hiện theo một chiến lược, chương trình đã được thiết kế, tác động đến người học nhằm hướng tới mục tiêu hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực của người học. Năng lực và phát triển năng lực Khái niệm năng lực (Competency) có nguồn gốc từ tiếng La Tinh.
Năng lực được hiểu như sự thực hiện thành thạo công việc của cá nhân. Bản thân năng lực không 11 n phải là hoạt động nhưng nó được thể hiện, bộc lộ thông qua việc thực hiện thành công các hoạt động. Nó là kết quả của việc huy động các kiến thức, kỹ năng và những thuộc tính cá nhân khác nhưng không phải chính sự huy động ấy. “Năng lực là tổ hợp các thuộc tính độc đáo của cá nhân, phù hợp với những yêu cầu của một hoạt động nhất định, đảm bảo cho hoạt động đó có kết quả” [31].
Các nhà tâm lí học đã chia năng lực thành hai dạng khác nhau đó là 10 năng lực chung và năng lực chuyên biệt. Trong đó năng lực chung là năng lực cơ bản, cần thiết làm nền tảng để phát triển năng lực chuyên môn. Từ những cách hiểu như trên về năng lực ta có thể thấy năng lực của học sinh THPT chính là khả năng vận dụng kết hợp với kiến thức đã tiếp thu được trong quá trình học tập, kỹ năng và thái độ để thực hiện nhiệm vụ học tập một cách có hiệu quả. Qua đó học sinh có thể giải quyết được những vấn đề trong thực tế đời sống mà các em gặp phải một cách tốt nhất.
Để phát huy, phát triển năng lực của mình, học sinh không chỉ tiếp thu được những kiến thức cơ bản trên lớp do giáo viên mang lại mà học sinh cần phải phát huy được những năng lực vốn có của mình như năng lực kết hợp tiếp thu kiến thức trong các giờ học và tham gia các hoạt động ngoại khóa để vận dụng những kiến thức đã học được vào trong thực tiễn đời sống [36]. Hơn nữa đối với một môn học không chỉ có kiến thức về môn học mà học sinh còn phải tiến hành các thí nghiệm để giải quyết vấn đề thì học sinh cần phải phát huy những năng lực cần thiết như: Năng lực tự học, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực sáng tạo của mình trong quá trình học tập. Đối với năng lực tự học: Học sinh cần phải chủ động, có ý thức tự giác trong việc xác định nhiệm vụ học tập; Sau đó học sinh phải lập ra và thực hiện kế hoạch đã lập ra học tập một cách nghiêm túc, có nề nếp; Cuối cùng là trong quá trình thực hiện việc học tập đó phải có sự tiếp thu để nhận ra và điều chỉnh những mặt sai sót, hạn chế. Đối với năng lực giải quyết vấn đề: Trong học tập học sinh cần phải phát hiện được vấn đề cần giải quyết; Bước tiếp là xác định, tìm hiểu, phân tích được vấn đề để từ đó đưa ra các đề xuất giải pháp giải quyết vấn đề; Cuối cùng là thực hiện các giải pháp để thực hiện được vấn đề cần giải quyết.
Đối với năng lực sáng tạo: Học sinh cần phải tự đặt ra được những câu hỏi về một sự vật, hiện tượng; Sau đó các bạn học sinh phải đưa ra được ý tưởng dựa trên các nguồn kiến thức đã có. Đặc biệt là học sinh không chỉ thực hiện được ý tưởng đó mà 12 n các em còn có thể đưa ra được những đề xuất để cải tiến, thay thế những phương pháp đã cũ, không còn phù hợp trong quá trình học tập. Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn năng lực được hiểu là: kiến thức, kỹ năng, khả năng và hành vi mà người lao động cần phải có để đáp ứng yêu cầu công việc, và là yếu tố giúp một cá nhân làm việc hiệu quả hơn so với những người khác. Đối với môn học Vật lí – một môn học đóng vai trò chủ yếu đối với sự phát triển năng lực tự học, năng lực tự giải quyết vấn đề và năng lực sáng tạo.
Ngoài ra môn học còn tạo cơ hội để học sinh phát triển năng lực hợp tác. Bởi trong quá trình học, học sinh và giáo viên phải có sự tương tác với nhau, giáo viên phải hướng dẫn học sinh học tập và tiến hành làm các thí nghiệm. Nếu không có năng lực hợp tác thì các kết quả thí nghiệm có thể sẽ bị sai. Như vậy, để đem lại hiệu quả cao trong quá trình học tập thì học sinh cần phải thực hiện và phát triển được những năng lực như trên.
Đồng thời giáo viên phải là người thầy giữ vai trò quan trọng trong quá trình các em học tập. Không chỉ học sinh mới cần phải phát huy, phát triển năng lực của mình mà giáo viên cũng cần phải nắm bắt, phát huy được khả năng, năng lực của mình như năng lực điều chỉnh, điều khiển trong quá trình giao tiếp trong hoạt động dạy – học. Để điều khiển, điều chỉnh mình và người học, người dạy phải có khả năng làm chủ được nhận thức, thái độ và hành vi ứng xử của mình. Người dạy cần phải biết sử dụng các phương tiện giao tiếp phù hợp với yêu cầu nội dung và hoàn cảnh giao tiếp, đảm bảo cho quá trình giao tiếp trong giảng dạy đạt kết quả cao.
Biết điều khiển, điều chỉnh người học tham gia tích cực vào quá trình giao tiếp, hướng vào các nội dung chủ yếu cần trao đổi và dẫn dắt người học đi đúng hướng. Giáo viên phải biết lắng nghe, đặc biệt là sự lắng nghe từ phía các bạn học sinh. Trong quá trình dạy nếu giáo viên chỉ thực hiện duy nhất quá trình truyền đạt kiến thức mà không lắng nghe những thắc mắc của học sinh để giải quyết vấn đề thì hoạt động dạy – học không thể đạt kết quả tốt được [36]. Như vậy, để hoạt động dạy - học đạt hiệu quả cao thì giữa giáo viên và học sinh cần phải có năng lực và phát triển năng lực ấy sao cho phù hợp để có được kết quả giáo dục như mong muốn.
Dạy học theo định hướng phát triển năng lực Dạy học định hướng phát triển năng lực tập trung vào việc mô tả chất lượng đầu ra, có thể coi là”sản phẩm cuối cùng” của quá trình dạy học. Việc quản lý chất lượng 13 n dạy học chuyển từ việc điều khiển “đầu vào” sang điều khiển “đầu ra”, tức là kết quả học tập của học sinh [39]. Dạy học định hướng phát triển năng lực không quy định những nội dung dạy học chi tiết mà quy định những kết quả đầu ra mong muốn của quá trình giáo dục, trên cơ sở đó đưa ra những hướng dẫn chung về việc lựa chọn nội dung, phương pháp, tổ chức và đánh giá kết quả dạy học nhằm đảm bảo thực hiện được mục tiêu dạy học tức là đạt được kết quả đầu ra mong muốn và thường được mô tả thông qua hệ thống các năng lực. Kết quả học tập mong muốn được mô tả chi tiết và có thể quan sát, đánh giá được.
Học sinh cần đạt được những kết quả yêu cầu đã quy định trong chương trình. Việc đưa ra các chuẩn đào tạo cũng là nhằm đảm bảo quản lý chất lượng giáo dục theo định hướng kết quả đầu ra [36]. Khi xác định quan điểm “chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học”, có thể hiểu: Dạy học theo định hướng phát triển năng lực là dạy học chuyển từ việc điều khiển đầu vào chủ yếu trang bị cho người học nắm vững kiến thức sang tập trung vào việc dạy học hướng vào phát triển năng lực thực hành, năng lực thực tiễn của người học [18]. Trong dạy học định hướng phát triển năng lực, năng lực được thể hiện ở các nội dung: Dạy học theo định hướng phát triển năng lực là quá trình chuyển trọng tâm từ trang bị, cung cấp cho người học nắm vững tri thức có tính lý luận sang dạy học giúp người học vận dụng tri thức vào thực tiễn.
Trong các môn học, những nội dung và hoạt động cơ bản được tập trung vào phát triển các năng lực tương ứng với mỗi môn học cụ thể.