CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN THỂ DỤC Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề Mục tiêu đào tạo của giáo dục là phát triển con người toàn diện, tăng cường bồi dưỡng cho thế hệ trẻ về năng lực trí tuệ cũng như về phẩm chất, đạo đức, nhân cách. Mục tiêu giáo dục toàn diện phải hội đủ các mặt: Đức, Trí, Thể, Mỹ và Lao động Hướng nghiệp, trong đó thể chất là cơ sở, nền tảng để tiếp nhận các mặt còn lại và phát triển chúng một cách tốt nhất. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận định: "Thể dục thể thao là một công tác cách mạng", tức là Người đã đặt thể dục thể thao ngang hàng với các công tác khác, như công tác chính trị tư tưởng, công tác tổ chức, công tác văn hoá, giáo dục.
Công tác thể dục thể thao có nhiệm vụ "nghiên cứu phương pháp và thực hành thể dục trong toàn quốc" nhằm "tăng bổ sức khoẻ quốc dân và cải tạo nòi giống Việt Nam". Chủ tịch Hồ Chí Minh mong muốn nhân dân ta ai cũng có sức khoẻ, ai cũng đều khoẻ mạnh. Con người có sức khoẻ thì sẽ tạo ra năng suất lao động cao hơn; con người có sức khoẻ thì năng động, hoạt bát hơn trong mọi hoạt động của đời sống xã hội; con người có sức khoẻ thì trí tuệ có điều kiện phát triển phong phú hơn. Người khẳng định: "Muốn lao động, sản xuất tốt, công tác và học tập tốt thì cần phải có sức khoẻ".
Sức khoẻ của con người có ảnh hưởng lớn đến tinh thần và lực lượng của toàn dân, Người nói: "Sức khoẻ của cán bộ và nhân dân được đảm bảo thì tinh thần càng hăng hái. Tinh thần và sức khoẻ đầy đủ thì kháng chiến càng nhiều thắng lợi, kiến quốc càng mau thành công". Và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu lên một chân lý "Dân cường thì nước thịnh". "Dân cường" chính là sức khoẻ của nhân dân cả về thể chất lẫn tinh thần; "nước thịnh" là phấn đấu vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, e 8 công bằng, văn minh.
Người Việt Nam ta ai cũng muốn có sức khoẻ để làm việc, để cống hiến, để hưởng thụ; ai cũng muốn đất nước thịnh vượng, giàu có, nhân dân được sống yên ổn, mới có điều kiện để phát triển một cách toàn diện. Trong trường học phổ thông hiện nay, TDTT có vai trò đặc biệt quan trọng, ngoài việc góp phần giáo dục toàn diện nó còn có vai trò nâng cao sức khỏe, phát triển thể chất, hình thành cho học sinh những kỉ năng vận động cơ bản; giáo dục tinh thần tập thể, tính dũng cảm, kiên trì, sáng tạo trong mọi hoạt động học tập cũng như trong cuộc sống hằng ngày. TDTT góp phần bài trừ tệ nạn xã hội, nâng cao đời sống tinh thần; Bên cạnh đó việc tập luyện thể dục thể thao đúng mức sẽ giúp ta chữa một số bệnh, tật thông thường, nâng cao sức khỏe tạo ra con người mới XHCN với đầy đủ các phẩm chất đáp ứng yêu cầu bảo vệ và xây dựng tổ quốc Việt Nam Xã Hội Chủ Nghĩa. Trong thời gian qua, phong trào rèn luyện sức khỏe cũng như phong trào thi đấu thể thao được Đảng và Nhà nước đặc biệt chú trọng.
Cơ sở vật chất được trang bị đầy đủ và từng bước hiện đại, sức khỏe chúng ta được củng cố thông qua tập luyện TDTT. Sự phát triển thể chất của con người ở mọi lứa tuổi nói chung và của học sinh, sinh viên nói riêng cũng đã có rất nhiều đề tài nghiên cứu, và được Bộ Giáo dục và Đào tạo giới thiệu trong hội nghị khoa học giáo dục thể chất của nghành giáo dục: Một số công trình nghiên cứu công tác GDTC ở trường học như: - Tác giả Trần Thị Kim Cương: "Thực trạng tập luyện thể thao ngoại khóa trong các trường học tỉnh Ninh Bình". - Tác giả Nguyễn Viết Minh: " Đổi mới phương pháp dạy thể dục nội khóa nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới chương trình, sách giáo khoa phổ thông". - Tác giả Nguyễn Anh Tuấn: " Đánh giá hiệu quả Giáo dục thể chất thông qua việc phân tích sự phát triển tố chất thể lực và sự phát triển hình thái cơ thể của nam học sinh phổ thông TP.HCM lứa tuổi 8 – 17 tuổi".
e 9 - Tác giả Lê Thị Kim Hảo: "Đánh giá thực trạng công tác GDTC ở các trường THPT thành phố Biên Hòa". - Tác giả Trần Minh Đức: " Biện pháp quản lí hoạt động dạy học môn thể dục ở các trường THPT tỉnh Bình Phước". Các đề tài trên đã đi sâu nghiên cứu, khảo sát thực trạng chung về công tác giáo dục thể chất và đề ra các biện pháp nhằm cải tiến, nâng cao chất lượng GDTC. Đến nay tại Tỉnh Bình Định chưa có đề tài nào nghiên cứu về quản lí hoạt động dạy học bộ môn thể dục tại các trường THPT và đặc biệt là tại huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định.
Trước yêu cầu nâng cao chất lượng dạy học môn thể dục, đã và đang đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết. Một trong những vấn đề cần thiết đó là hoạt động quản lí của hiệu trưởng. Nhưng để quản lí có hiệu quả thì cần phải có biện pháp đúng đắn và thích hợp vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu thực trạng và xác lập các biện pháp quản lí của hiệu trưởng đối với hoạt động dạy học môn thể dục tại các trường THPT Huyện Phù Cát, nhằm giúp cho công tác quản lí hoạt động dạy học môn Thể dục của hiệu trưởng đạt kết quả cao. Các khái niệm cơ bản 1.
Quản lí: Quản lí là một hoạt động rất quan trọng trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Nó xuất hiện từ thời nguyên thủy cho đến nay dưới nhiều hình thức khác nhau. Quản lý là một hoạt động phổ biến diễn ra trong mọi lĩnh vực xã hội, đặc biệt nó có liên quan mật thiết đến sự hợp tác và phân công lao động.Mác đã xem quản lý là kết quả tất yếu của quá trình phát triển lao động xã hội. Ông viết: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng đều cần đến một sự chỉ đạo để điều hành những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận e 10 động của những khí quan độc lập của nó.
Một người độc tấu vĩ cầm tự điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có một nhạc trưởng”. Trong thực tế, thuật ngữ "quản lý" và "quản trị" vẫn được dùng trong những hoàn cảnh khác nhau để nói lên những nội dung khác nhau, nhưng về cơ bản hai từ này đều có bản chất giống nhau. Khi dùng theo thói quen, chúng ta coi thuật ngữ "quản lý" gắn liền với quản lý nhà nước, quản lý xã hội, quản lý ở khu vực công cộng, tức là quản lý ở tầm vĩ mô, còn thuật ngữ "quản trị" được dùng ở phạm vi nhỏ hơn đối với một tổ chức, một doanh nghiệp (kinh tế). Xét về từ ngữ, thuật ngữ “quản lý" (tiếng Việt gốc Hán) có thể hiểu là hai quá trình tích hợp vào nhau; quá trình "quản" là sự coi sóc, giữ gìn, duy trì ở trạng thái "ổn định"; quá trình “ lý" là sửa sang, sắp xếp, đổi mới để đưa tổ chức vào thế “phát triển”.
Theo tác giả Trần Kiểm: “ Quản lí là những tác động của chủ thể quản lí trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực ( Nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức ( chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất” [ 18 , tr. Theo Nguyễn Bá Sơn: “ Quản lí là tác động có mục đích đến tập thể những con người để tổ chức và phối hợp hoạt động của họ trong quá trình lao động” [ 27, tr. Có thể nhận thấy các định nghĩa về quản lí đều hướng đến hiệu quả của công tác quản lí và phát triển được tổ chức. Như vậy, ta có thể khái quát nội dung của quá trình quản lí theo sơ đồ sau: e 11 Công cụ QL Chủ thể QL Khách thể QL Mục tiêu QL Phương pháp QL Sơ đồ 1: Cấu trúc của quá trình quản lí Qua sự phân tích về khái niệm quản lí của các tác giả ta có thể khái quát: Quản lí là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lí lên khách thể quản lí về các mặt chính trị, văn hoá, kinh tế, xã hội vv…bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng đến mục đích đã định.
Quản lí giáo dục Giáo dục là một lĩnh vực của xã hội, vì vậy quản lí giáo dục cũng là quản lí xã hội, nhưng quản lí giáo dục nó có đặc điểm riêng của nó. Theo tác giả Trần Đình Tuấn quản lí giáo dục được hiểu dưới 2 cấp độ cơ bản: Vi mô và vĩ mô. Quản lý cấp vĩ mô: Quản lý vĩ mô tương ứng với khái niệm về quản lý một nền giáo dục (hệ thống giáo dục) và quản lý vi mô tương ứng với khái niệm về quản lý một nhà trường. Ở cấp độ vĩ mô, quản lý giáo dục được hiểu là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý vào hệ thống giáo dục quốc dân e 12 nhằm huy động và tổ chức thực hiện có hiệu quả các nguồn lực phục vụ cho mục tiêu phát triển giáo dục, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia.
Như vậy, quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quan là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm làm cho toàn bộ hệ thống giáo dục vận hành theo đường lối nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ mà xã hội đặt ra. Chủ thể quản lý điều khiển các thành tố trong hệ thống quản lý thông qua hoạt động của các tổ chức thành viên trong hệ thống đó. Tính chất chỉ huy – chấp hành là đặc trưng nổi trội trong quan hệ quản lý. Tuy nhiên, chủ thể quản lý và đối tượng quản lý đều có mục đích chung.