Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động dạy học đặc thù hoạt động dạy và học tích hợp bộ môn Khoa học theo chương trình IB. Chương 2: Khảo sát thực trạng mô hình quản lý giáo dục, quản lý hoạt động dạy học tích hợp bộ môn Khoa học khối PTCS trường Quốc tế Liên hiệp Quốc Hà Nôi trong giai đoạn từ 2010 đến 2014. Chương 3: Đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động dạy học tích hợp bộ môn Khoa học khối PTCS tại trường Unis Hà Nội trong giai đoạn hiện nay. 18 z CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC Ở TRƢỜNG PTCS 1.
Tổng quan các nghiên cứu liên quan đến đề tài Quản lý giáo dục, quản lý nhà trường là đề tài luôn nhận được sự quan tâm của đông đảo các nhà giáo dục trong nước và quốc tế. Do đó, ở Việt Nam hiện có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này như: “Cơ sở khoa học của quản lý giáo dục” của tác giả Nguyễn Minh Đạo (1997) [8], “Quản lý giáo dục – một số vấn đề lý luận và thực tiễn” của nhóm tác giả Đặng Quốc bảo, Nguyễn Thị Mỹ Lộc (2012) [1]. Các tác giả đã nêu lên nguyên tắc cơ bản của việc quản lý các hoạt động dạy học, từ đó chỉ ra biện pháp quản lý nhà trường ở Việt Nam nhằm góp phần mang lại hiệu quả cho sự phát triển giáo dục của đất nước. Ngoài những nghiên cứu chung như trên, cũng có những tác giả tập trung nghiên cứu sâu hơn mảng giáo dục phổ thông và chất lượng đội ngũ GV như “Mô hình hội đồng tư vấn trong nhà trường phổ thông ở một số nước trên thế giới” của tác giả Đặng Minh Hiển (2013) [2], hay công trình “Tổ chức hoạt động dạy học ở trường THPT theo định hướng phát triển năng lực HS” của tác giả Trần Trung Dũng (2014) [11], “Năng lực giáo dục của GV THCS qua dạy học môn học” của tác giả Nguyễn Hồng Quân (2014) [7].
Thông qua nghiên cứu này, các tác giả nhấn mạnh tầm quan trọng của yếu tố tâm lý cá nhân, sự phát triển nhận thức có ảnh hưởng lớn đến kết quả học tập của học sinh lứa tuổi THCS. Không chỉ ở Việt Nam, trên thế giới hiện nay có rất nhiều công trình của các tác giả nghiên cứu về quản lý giáo dục (QLGD) như Sallis Edward (1993), Silva Roncelli-Vaupot (2000); Marmar Mukhopadhyay (2005); Michael Svec (2007) – Reflections on international school science teaching; Science teacher magazine [36]. Các nghiên cứu quốc tế đều khẳng định việc quản lý hoạt động dạy và học giữ vai trò then chốt trong việc đảm bảo chất lượng đầu ra. Các 19 z nghiên cứu cũng chỉ ra một số nguyên nhân khiến chất lượng dạy học thấp hơn mức mong đợi như: việc quản lý yếu kém hoạt động dạy của GV, phương pháp học của HS chủ yếu là học vẹt và ít có thực hành, phân bổ thời gian cho việc học khoa học ở trường và ở nhà còn chưa phù hợp… Các tác giả Dennis Goodrum, Amelia Druhan và Joanna Abbs trong một nghiên cứu về chất lượng dạy và học môn Khoa học ở trường phổ thông (2011) [19, tr.
4-6] cũng khẳng định việc quản lý, định hướng hoạt động dạy và học, hoạt động tổ chức giúp học sinh lĩnh hội và vận dụng kiến thức, các thuật ngữ, thông số khoa học là hết sức quan trọng và cần được nghiên cứu lâu dài, ở nhiều phương diện của vấn đề. Sau đây là phần trình bày tóm tắt những khái niệm cơ bản làm khung lý luận của đề tài. Khái niệm cơ bản của đề tài 1.Quản lý giáo dục 1.Quản lý là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm soát và đánh giá các mục tiêu được xác định trước để thực hiện một mục tiêu định trước của một tổ chức thông qua việc sử dụng phối hợp các nguồn lực con người và vật chất. Học giả người Mỹ Harold Koontz (2009) [4, tr.33] lại định nghĩa: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu nhằm đảm bảo sự phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm.
Mục tiêu của mọi nhà quản lý là nhằm hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc và sự bất mãn cá nhân ít nhất”.Quản lý giáo dục: là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm soát hoạt động của một tổ chức giáo dục bằng cách sử dụng nguồn nhân lực và vật 20 z chất để thực hiện hiệu quả các chức năng giảng dạy, khuyến khích học tập, tự học và nghiên cứu. Với các cách tiếp cận khác nhau, mỗi tác giả đều đưa ra những định nghĩa khác nhau về quản lý giáo dục nhưng đều thống nhất quan điểm:“quản lý giáo dục là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội”. Các chính sách quốc gia về giáo dục tìm cách đưa xã hội phát triển về các lĩnh vực kinh tế và văn hóa, khoa học thông qua việc tập trung vào phát triển nguồn nhân lực thông qua giáo dục. Giáo dục, do đó, phải có chương trình giảng dạy phù hợp hơn, năng động, và trao quyền cho người học nhằm mang lại những thay đổi xã hội mong muốn trong khi vẫn giữ những khía cạnh hấp dẫn của văn hóa hiện có của chúng tôi.
Quản lý nhà trường Quản lý nhà trường là tập hợp các tác động của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đẩy mạnh mọi hoạt động của nhà trường thực hiện các mục tiêu dự kiến. Mặc dù có những cách tiếp cận vấn đề khác nhau, nhưng nhìn chung quản lý nhà trường về bản chất chính là QLGD trong phạm vi một đơn vị giáo dục. Như vậy, QL nhà trường phải tuân thủ theo các nguyên lý của QLGD. Quản lý hoạt động dạy học trong nhà trường Quản lý quá trình dạy học là quản lý hệ thống toàn vẹn đa thành tố bao gồm: mục đích và nhiệm vụ dạy học, nội dung dạy học, phương pháp và các hình thức tổ chức dạy học, các điều kiện dạy học, hệ thống và thực thi kiểm tra đánh giá và kết quả đầu ra của người học, phát triển chương trình dạy học, phát triển năng lực giáo viên (theo Tony Bush, Edith Kiggundu trong Managing teaching and learning international education development, 2009) [37].
Trách nhiệm quản lý hoạt động dạy và học được thuộc về hiệu trưởng, trưởng phòng đào tạo, trưởng Khoa và các giáo viên trực tiếp tham gia hoạt động 21 z dạy học. Các giáo viên quản lý giáo trình giảng dạy và việc hiện thực hoá kế hoạch bài giảng. Trưởng khoa có trách nhiệm trong việc đảm bảo hoạt động dạy và học hiệu quả trong phạm vi chuyên môn. Trường Quốc tế và các khái niệm liên quan 1.
Giáo dục quốc tế Thuật ngữ giáo dục quốc tế có một lịch sử rất lâu dài. Trước chiến tranh thế giới thứ 2, việc nhận ra những gì mà chiến tranh giữa các quốc gia và vùng lãnh thổ có thể mang lại cho con người chỉ là những đau khổ và sự thấp hèn đã tạo ra động lực thúc đẩy ước muốn con người có suy nghĩ hào phóng nhằm khuyến khích khái niệm chủ nghĩa quốc tế như một cán cân thăng bằng các chủ nghĩa dân tộc. Trong một tạp chí International School Journal (của Hiệp hội các trường Quốc tế trên thế giới), ông Ian Hill - Giám đốc điều hành của tổ chức Chương trình tú tài quốc tế IBO (International Baccalaureate Organization) đã chỉ ra rằng, cách tiếp cận tốt nhất để phân biệt giữa các trường quốc tế lúc đó là “khuynh hướng quốc tế” (internationally-minded) trong việc lập kế hoạch, thiết kế, và hoạt động [15, tr. Tuy nhiên điều mang lại sự khác biệt cho trường theo khuynh hướng quốc tế, theo quan điểm của Charles A Gellar, thứ nhất là vấn đề giáo dục và triết lý ứng xử.
Trước tiên, chương trình học của nhà trường nhấn mạnh đến các tác phẩm văn học và lịch sử thế giới, các nền văn hóa đặc trưng trên thế giới, tập trung vào sự phụ thuộc giữa các quốc gia và giữa các cộng đồng người, giảm đi các chủ đề mang tính nhận thức chủ quan của bất kỳ một quốc gia nào khác, một nền tôn giáo. Thứ hai, tôn chỉ hoạt động luôn sẵn sàng khẳng định và đề cao các giá trị phổ quát, mang tính tổng thể toàn thế giới. Trường quốc tế Theo quan điểm của hiệp hội các trường quốc tế (ISA), viện Quản lý giáo dục Quốc tế (EDMC), và hầu hết các học giả về giáo dục trên thế giới, trường Quốc tế là trường học đáp ứng đủ các điều kiện nhân lực và vật lực để thực hiện 22 z chương trình giáo dục quốc tế IB (International Baccalaureate). Mặc dù chương trình IB không phải là duy nhất trên hệ thống giáo dục, nhưng là một trong những chương trình được đánh giá cao nhất hiện nay với chức năng là chương trình học chuẩn của các trường Quốc tế [43].
Các tiêu chuẩn của trường Quốc tế (theo Hiệp hội thư viện các trường quốc tế IASL - International Association of School Librarianship, 2009), mặc dù tất cả các trường Quốc tế có thể không đáp ứng tất cả các tiêu chuẩn, một phần lớn trong số tám tiêu chuẩn quy định cần được đáp ứng [43]: 1. Liên thông trong giáo dục học sinh trên cùng hệ thống các trường quốc tế. Có sự chuyển dịch về số lượng học sinh theo hướng tăng về số lượng. Nguyên nhân là do chất lượng dạy và học tốt hơn các trường địa phương.
Môi trường học tập đa văn hóa, đa ngôn ngữ, ngôn ngữ chính được sử dụng trong dạy và học là tiếng Anh. Học sinh của trường bao gồm học sinh đến từ nước sở tại và những học sinh đến từ các quốc gia khác trên thế giới, với những nền văn hóa khác nhau, ngôn ngữ mẹ đẻ khác nhau. Nhà trường sử dụng chương trình giảng dạy quốc tế IB. (An international curriculum (i.
IB - DP, MYP, PYP). Chương trình giảng dạy về bản chất là kế hoạch cấu trúc các bài dạy cho HS bao gồm các mục tiêu về kiến thức, kỹ năng thực hành nhằm giúp đạt được năng lực học tập, làm việc và ứng xử xã hội. Nhà trường được cộng đồng Quốc tế công nhận. (International accreditation), Đáp ứng đủ các tiêu chí xếp loại của các tổ chức như CIS, IBO, North Eastern ASC, Western Ass.
of Schools and colleges và được cấp chứng chỉ thành viên của các hiệp hội này .