Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO TRÌNH ĐỘ ĐẠI HỌC HÌNH THỨC VỪA LÀM VỪA HỌC TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC 1.1 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 1.1 Những nghiên cứu ngoài nước Đào tạo hình thức VLVH trên thế giới đã có từ rất lâu và rất được quan tâm, chú trọng phát triển, ngày càng được tiếp tục nghiên cứu, bổ sung và hoàn thiện. Đào tạo hình thức VLVH đã hạn chế được khoảng cách địa lý, điều kiện tuổi tác, sức khỏe với mức học phí thấp, kết hợp với việc áp dụng các thành tựu và tiến bộ của công nghệ thông tin, thời gian tập trung trên lớp ngắn, đem đến cơ hội học tập cho mọi người trên mọi vùng miền của quốc gia. Đào tạo hình thức VLVH cũng đã hạn chế mức thấp nhất công tác đầu tư kinh phí xây dựng phòng ốc, trường lớp và tận dụng được đội ngũ giảng viên (GV), cán bộ quản lý (CBQL), cũng như nguồn học liệu chất lượng từ các trường, viện đại học trên toàn quốc. Từ rất sớm vấn đề bình đẳng trong giáo dục, tạo cơ hội cho học tập suốt đời đã được quan tâm.
Quan điểm của Mác – Ăng ghen, đó là giáo dục bình đẳng. Đẩy mạnh phong trào học tập trong nhân dân bằng các hình thức chính quy (CQ) và không CQ (trong đó có hình thức VLVH) thực hiện giáo dục cho mọi người, cả nước trở thành một xã hội học tập và học tập suốt đời. Năm 1949 tại Đan Mạch, người ta đã bàn đến giáo dục cho người lớn. Năm 1960 tại Canada, đã mở hội nghị bàn nhiều về việc làm thế nào để xóa mù chữ cho người lớn tuổi vừa đi làm vừa có thể được học.
Năm 1972 tại Nhật Bản, người ta bàn nhiều về dân chủ trong giáo dục và giáo dục cho người lớn là một nhân tố quan trọng trong việc đẩy mạnh sự phát triển KT-XH cho từng quốc gia, giáo dục VLVH không chỉ để tạo điều kiện bình đẳng giữa người và người mà còn coi đây là nguồn lực lao động có chất lượng. Bản tuyên ngôn tại Hội nghị thế giới lần thứ V về giáo dục người lớn, giáo dục VLVH, tổ chức tại Cộng hòa Liên bang Đức năm 1997 đã khẳng định: Giáo dục người lớn (hình thức VLVH) tuy khác nhau về tổ chức, tùy theo sự phát triển 5 KT-XH, văn hóa, giáo dục ở mỗi nước, song giáo dục người lớn đều là những bộ phận quan trọng, cần thiết của quan niệm mới về giáo dục và học tập suốt đời. Hội nghị lần thứ III, khu vực Châu Á – Thái Bình Dương về giáo dục thường xuyên (GDTX) do UNESCO tổ chức tại Malaysia, qua đó đã thể hiện sự quan tâm của các nước về giáo dục VLVH. Hội nghị đã thừa nhận sự đóng góp to lớn của hình thức VLVH đối với việc nâng cao dân trí và đào tạo nguồn nhân lực cho phát triển KT-XH, phát triển cá nhân, xóa đói giảm nghèo và bảo vệ môi trường, đồng thời khẳng định vai trò của giáo dục VLVH là chìa khóa bước vào thế kỷ XXI.
Theo UNESCO, giáo dục dành cho người lớn ở mức độ bậc cao (giáo dục sau phổ thông) có ba loại hình là giáo dục CQ, giáo dục không CQ (trong đó có VLVH), giáo dục phi CQ, với giáo dục không CQ thì quá trình đào tạo diễn ra bên ngoài hệ thống CQ, đều đặn và liên tục. Phần lớn các chương trình đào tạo không CQ cung cấp các loại văn bằng, chứng chỉ cho học viên sau khi tốt nghiệp (UNESCO, 2010). Nhiều quốc gia trên thế giới đã sớm coi trọng và nghiên cứu vai trò của giáo dục và đào tạo, VLVH, giáo dục người lớn, suốt đời trong xã hội học tập bước đầu và đạt được nhiều thành tựu to lớn như: - Ở Trung Quốc, hệ thống giáo dục đại học (GDĐH) Trung Quốc gồm GDĐH Chính quy và GDĐH người lớn với mục tiêu đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu hiện đại hóa. GDĐH người lớn được thành lập để giúp cán bộ công chức, viên chức, công nhân… có cơ hội tiếp cận GDĐH, có 1.156 cơ sở GDĐH người lớn với tổng số 2.100 học viên, học viên học ở hệ thống GDĐH người lớn có thể lựa chọn phương thức học “bán thời gian” hoặc “toàn thời gian” cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh mỗi người, nhưng sự lựa chọn chủ yếu vẫn là phương thức “bán thời gian”.
Quy trình đào tạo rất mềm dẻo, văn bằng được cấp dựa trên cơ sở hoàn thành đầy đủ các môn học theo quy định và đạt kết quả mọi môn thi. Đối với những người tự học các chương trình đào tạo đại học thì Nhà nước tổ chức xác nhận, cấp văn bằng dựa vào quy trình đào tạo như trên. Theo Tổng Thư ký hội Giáo dục người lớn Trung quốc cho rằng, trong hệ thống giáo dục quốc dân, GDĐH người lớn đóng vai trò quan trọng như giáo dục cơ bản, giáo dục kỹ thuật, dạy nghề và GDĐH CQ. Theo Nghị định về cải cách GDĐH người lớn (1993) của Trung Quốc thì mọi lực lượng xã hội cần được huy động để giúp đỡ, thúc đẩy phát triển GDĐH người lớn ở các cấp độ khác nhau và trong tương lai cần tăng cường, củng 6 cố, mở rộng các cơ hội, các kênh cho mọi công dân được hưởng thụ GDĐH (Guodong, 2003).
Theo Kristy Kelly (2000) trong nghiên cứu: “Hệ thống GDĐH ở Việt Nam – The higher education system in VietNam” đánh giá đào tạo đại học tại chức ở Việt Nam là mô hình đào tạo nhân lực hay, rất phù hợp với thực tiễn thời kỳ phát triển nền kinh tế tập trung bao cấp. Học viên đa phần là cán bộ công chức đến từ các cơ quan, đơn vị Nhà nước, được tài trợ kinh phí đào tạo, vừa làm việc vừa học “bán thời gian” một khóa học rút gọn. Các khóa học tổ chức linh hoạt, tập trung vào kinh nghiệm thực tiễn hơn là lý thuyết hàn lâm. Học viên hoàn thành khóa học được cấp văn bằng trên văn bằng có ghi phương thức học “tại chức”.
Quy trình tuyển chọn và cử cán bộ đi học được thực hiện rất nghiêm túc và chặt chẽ (Kelly, 2000). - Tại Hàn Quốc, Giáo dục Hàn Quốc phát triển vào hàng bậc nhất thế giới về quy mô giáo dục. Tuy nhiên với tham vọng trở thành quốc gia có nền giáo dục tốt nhất, cũng như nhằm đáp ứng yêu cầu của một xã hội học tập suốt đời trong thế kỷ XXI Hàn Quốc đã tiến hành một cuộc cải cách giáo dục mạnh mẽ và toàn diện, vì một hệ thống giáo dục mới phù hợp với kỷ nguyên thông tin và toàn cầu hóa. Quan điểm cơ bản của hệ thống giáo dục mới là xây dựng một “xã hội giáo dục sống động và mở cửa”, cấu trúc lại hệ thống giáo dục kỹ thuật, nghề nghiệp, giới thiệu mô hình các trường đào tạo đặc biệt cho ngành y và các ngành thuộc về pháp luật.
Mục tiêu của chương trình cải cách giáo dục là: đa dạng hóa và chuyên môn hóa các trường đại học; xây dựng chương trình mới để tăng cường tính sáng tạo; xây dựng “cộng đồng nhà trường tự chủ”; tăng ngân sách cho giáo dục lên 5% GDP; giới thiệu hệ thống giáo dục nghề nghiệp mới; thúc đẩy cải cách chính sách về mạng thông tin giáo dục; cải cách giáo dục xã hội để thực hiện học suốt đời; giảm áp lực tài chính cho cha mẹ học sinh. Khái quát lại, trong các nghiên cứu của các tác giả nước ngoài về đào tạo đại học tại chức (nay là VLVH) đào tạo đại học người lớn ở các nước, các giải pháp nâng cao hiệu quả trong giáo dục người lớn, về việc xây dựng một xã hội học tập với một hệ thống giáo dục mang tính mở, mềm dẻo, linh hoạt, đa dạng, tạo thuận lợi cho người học cần gì học nấy, học suốt đời, cung cấp cơ hội học tập suốt đời cho các nhóm không đủ điều kiện và cơ hội học tập trong xã hội. Đó cũng là nội dung mà nhà nước ta đã sớm nghiên cứu, tiếp thu và phát triển hình thức VLVH.2 Những nghiên cứu trong nước Đối với Việt Nam chúng ta, đào tạo hình thức VLVH cũng đã góp phần thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về việc xây dựng xã hội học tập suốt đời, xóa bỏ cách trở về vùng miền, xóa bỏ sự bất công trong nhu cầu học tập, tiếp thu kiến thức, khuyến khích và phát huy tinh thần hiếu học vốn có của người dân Việt Nam. Việc tham gia đào tạo hình thức VLVH, với cách tiếp cận tri thức quản lý chất lượng một cách độc lập, tự giác, bên cạnh sự hướng dẫn, hỗ trợ của đội ngũ GV, kết hợp ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ hiện đại, đã tạo điều kiện cho mọi người, mọi đối tượng, mọi thành phần đều có thể tham gia học tập, cập nhật, bổ sung kiến thức, nâng cao trình độ trong thời đại mà điều kiện khoa học công nghệ, tri thức nhân loại phát triển nhanh chóng như vũ bão.
Hiện tại, các hình thức đào tạo hiện bình đẳng như nhau không phân biệt hình thức, không ghi hình thức đào tạo trên bằng tốt nghiệp đại học, đây cũng là động lực giúp phát triển đào tạo hình thức VLVH thúc đẩy động lực tạo niềm tin cho người học. Bước vào thập niên đầu của thế kỷ XXI, khi Việt Nam gia nhập WTO và hội nhập kinh tế quốc tế thì nền giáo dục Việt Nam đứng trước những cơ hội và thách thức, đòi hỏi người lao động phải không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn, trình độ tay nghề. Để làm được điều đó người lao động cần phải có ý thức học tập suốt đời để cập nhật kiến thức thường xuyên thích ứng với công việc trước đòi hỏi của sự phát triển khoa học công nghệ nhất là trong cuộc cách mạng công nghiệp 4. Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã khẳng định: “Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, trong đó đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục là khâu then chốt” và “Giáo dục và đào tạo có sứ mệnh nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng xây dựng đất nước, xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam” (Ban Chấp hành Trung ương Đảng, 2011).