Chương 1. Cơ sở lý luận về quản lý công tác giáo dục truyền thống cách mạng địa phương thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học sinh trường trung học phổ thông. Thực trạng quản lý công tác giáo dục truyền thống cách mạng địa phương thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học sinh các trường trung học phổ thông huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định. Biện pháp quản lý công tác giáo dục truyền thống cách mạng địa phương thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học sinh các trường trung học phổ thông huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC GIÁO DỤC TRUYỀN THỐNG CÁCH MẠNG ĐỊA PHƯƠNG THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC NGOÀI GIỜ LÊN LỚP CHO HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Một số nghiên cứu ở nước ngoài Trên thế giới đã có một số công trình nghiên cứu đề cập đến đạo đức, giáo dục đạo đức và giáo dục truyền thống cách mạng dân tộc được tiếp cận dưới nhiều góc độ lý luận và thực tiễn khác nhau. Dưới đây là một số nghiên cứu tiêu biểu được nhiều nghiên cứu đề cập đến.
Nói về tầm quan trọng của GDĐĐ tác giả Mohammad Chowdhury (2018) nhấn mạnh rằng: “Dân chủ tự do chỉ có thể phát triển nếu công dân của họ nắm giữ những giá trị đạo đức và công dân nhất định, và biểu lộ những đức tính nhất định (Althof & Berkowitz, 2006). Trong thời kỳ hiện đại, công nghệ đang ảnh hưởng đến xã hội, những tiến bộ nhanh chóng trong khoa học và công nghệ và sự phức tạp xã hội cũng tăng lên đòi hỏi củng cố tầm quan trọng của đạo đức, giá trị và đạo đức và lợi ích của chúng đối với xã hội” [43]. Tác giả Han (2014) giải thích: GDĐĐ nhằm mục đích thúc đẩy sự phát triển đạo đức của học sinh và hình thành nhân sinh quan. Khung lý thuyết của giáo dục đạo đức được hỗ trợ bởi triết lý đạo đức, đạo đức tâm lý và thực hành giáo dục đạo đức [46].
Tương tự, một số tác giả khác cũng nhấn mạnh vượt ra ngoài phạm vi thúc đẩy xã hội hợp lý kỹ năng hay đức tính, GDĐĐ giá trị thực của con người nên trau dồi ý nghĩa và cá nhân kiến thức hình thành vượt trội hoặc tránh sự hiểu biết khoa học tự nhiên và hoặc xã hội và giải thích (Carr, 2014) [42], (Halstead, 2007) [45]. Plato, người sáng lập ra Chủ nghĩa duy tâm, tuyên bố rằng mục đích của giáo dục là phát triển khả năng của mỗi cá nhân để phục vụ cho xã hội tốt e 9 hơn. Theo như ông, giáo dục là một yếu tố quan trọng cho một xã hội [44]. Theo Nur Yeliz (2015) cho rằng: ở Hy Lạp cổ đại, giáo dục được coi là một chức năng của nhà nước và mục đích của nó là phục vụ cho sự kết thúc của nhà nước.
Ngày nay, giáo dục cũng phục vụ cả nhu cầu của nhà nước hoặc xã hội và công dân. Do đó, giáo dục rất quan trọng, nó xây dựng tính cách, cung cấp kiến thức và giúp tiến bộ của nhà nước. Giáo dục làm cho một người đàn ông hoàn thành và nó cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc phát triển xã hội và nhà nước [44]. Nhà triết học Socrate (470-399 TCN) đã hướng triết học vào mục đích giáo dục con người sống có đạo đức.
Socrate cho rằng, đạo đức hay cái thiện cũng là một loại tri thức, mà ta có thể tự trau dồi. Một kẻ ác đơn giản chỉ là một kẻ dốt nát, chứ bản chất anh ta không ác. Đó là quan điểm tiến bộ vào thời bấy giờ. Tiến bộ vì theo ông, con người có thể tự hoàn thiện bản thân qua giáo dục và việc "tự suy xét".
Bởi thế, triết học của ông quan tâm nhiều đến con người, dạy đạo đức cho con người [23]. Rabơle (1494-1553) là một trong những đại biểu xuất sắc của chủ nghĩa nhân đạo Pháp và tư tưởng giáo dục thời kì Phục hưng. Ông đòi hỏi việc giáo dục phải bao hàm các nội dung: “trí dục, đạo đức, thể chất và thẩm mĩ và đã có sáng kiến tổ chức các hình thức giáo dục như ngoài việc học ở lớp và ở nhà, còn có các buổi tham quan các xưởng thợ, các cửa hàng, tiếp xúc với các nhà văn, các nghị sĩ, đặc biệt là mỗi tháng một lần thầy và trò về sống ở nông thôn một ngày” [8].Makarenco, nhà sư phạm nổi tiếng của nước Nga Xô-viết vào thập niên 20, 30. Ông đã vận dụng sáng tạo lý luận Mác-xít vào thực tế để rút ra những kinh nghiệm làm phong phú cho lý luận giáo dục XHCN nói riêng và giáo dục nhân loại nói chung.
Theo Makarenco, một trong những logic của quá trình sư phạm là: “quá trình tổ chức hợp lý hoạt động của học sinh tham gia vào cách mạng xã hội, lao động sản xuất, các hoạt động tập thể như vui chơi, thể dục thể thao, tham quan du lịch, văn hoá nghệ thuật” [9]. Ở Cộng e 10 hòa Séc, GDĐĐ là môn học một phần không thể thiếu trong các chương trình giảng dạy trong tất cả các trường cơ bản, trung học và đại học. Mục đích của là tạo ra một con người phát triển toàn diện, sự khoan dung, phát triển sự đồng cảm, quyết đoán và dẫn đến lối sống lành mạnh [48]. Ở Hàn Quốc, mỗi học sinh phải học các lớp GDĐĐ hai giờ một tuần trong suốt 12 năm ở lại, từ tiểu học đến cao cấp THPT.
Lớp GDĐĐ là bắt buộc đối với tất cả học sinh bởi chương trình giảng dạy tập trung của GDĐĐ. GDĐĐ ở Hàn Quốc được hướng dẫn bởi các văn bản pháp lý của chương trình giảng dạy quốc gia ban hành bởi chính phủ trung ương (Bộ Giáo dục). Trong chương trình giảng dạy, mọi khía cạnh của GDĐĐ được quy định cụ thể: mục đích, mục tiêu, giảng dạy phương pháp, nội dung, đánh giá và phân bổ thời gian cho mọi cấp lớp và trường học [52]. Một số nghiên cứu ở trong nước Ở Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến GDĐĐ.
Năm 1979 Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã ra nghị quyết về cải cách giáo dục. Ủy ban Cải cách Giáo dục Trung ương đã ra quyết định số 01 về cuộc vận động tăng cường GDĐĐ cách mạng trong trường học. Quyết định ghi rõ “Nội dung đạo đức cần được giáo dục cho học sinh từ mẫu giáo đến đại học nội dung chủ yếu dựa vào 5 điều Bác Hồ dạy” [37]. Nghị quyết Trung ương 2 còn nhấn mạnh “Phải coi đầu tư cho giáo dục là đầu tư cơ bản quan trọng nhất cho sự toàn diện của đất nước, coi trọng nhân cách lý tưởng và đạo đức, trí lực và thể lực, gắn học với hành, lý thuyết với thực hành” [4].
Trong nghiên cứu của mình, tác giả Phạm Tất Dong (1990) với đề tài “Cải tiến công tác giáo dục tư tưởng, chính trị, đạo đức và lối sống cho học sinh, sinh viên trong hệ thống giáo dục quốc dân” tác giả đã đi sâu vào nghiên cứu cơ sở tâm lý học của hoạt động giáo dục lao động, giáo dục hướng nghiệp, gắn kết các hoạt động này với hoạt động GDĐĐ nhằm đạt được mục tiêu GDĐĐ nghề nghiệp và lý tưởng nghề nghiệp cho thế hệ trẻ; đã mang lại e 11 nhiều nội dung mới về GDĐĐ, chính trị tư tưởng trong các trường từ tiểu học đến đại học những năm đầu 90 [27]. Về những nghiên cứu liên quan đến GDNGLL cũng được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu: Giai đoạn từ năm 1979 trở về trước: Điểm nổi bật ở giai đoạn này là khái niệm “Hoạt động GDNGLL” chưa được định hình và chưa có tên gọi như ngày nay. Tuy nhiên, nội hàm cơ bản của khái niệm đã được Hồ Chủ Tịch đề cập trong “Thư gửi cho học sinh” nhân ngày khai trường tháng 9/1945, Người viết “…nhưng các cháu, ngoài giờ học ở trường, cũng nên tham gia vào các Hội cứu quốc để tập luyện thêm cho quen với đời sống chiến sĩ và để giúp đỡ một vài việc nhẹ nhàng trong cuộc giữ gìn đất nước” [8]. Cuộc cải cách giáo dục lần thứ hai (1956) đã nêu rõ mục tiêu của cuộc cải cách giáo dục là “Đào tạo, bồi dưỡng thế hệ thanh niên và thiếu nhi trở thành những người phát triển về mọi mặt, những công dân tốt, trung thành với Tổ quốc, những người lao động tốt, cán bộ tốt của nước nhà, có tài có đức để phát triển chế độ dân chủ nhân dân, tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta…”.
Phương châm của giáo dục là lý luận liên hệ với thực tiễn, gắn chặt nhà trường với đời sống xã hội. Cuộc vận động xây dựng nhà trường XHCN năm 1958 có yếu tố đặc trưng là lao động sản xuất phải trở thành yếu tố cơ bản trong mục đích, phương châm, phương pháp giáo dục của nhà trường. Trong dịp hè, các trường tổ chức cho HS tham gia lao động sản xuất, HS sôi nổi tỏa về các nhà máy, xí nghiệp, hợp tác xã, đi về các bản làng, thôn xóm, tham gia lao động trong các công trường, các công trình thủy lợi, cầu đường…[7]. Nghiên cứu của Nguyễn Thị Hoàng Trâm (2003) về “Các biện pháp nâng cao chất lượng quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp của Hiệu trưởng các trường THPT các tỉnh phía Nam”, luận văn thạc sỹ năm 2003, đã tập trung làm rõ: lịch sử vấn đề nghiên cứu về đề tài này ở các nước trên thế giới và Việt Nam.
Tác giả đã có nhiều công phu khi phân tích cơ sở lý luận của hoạt động NGLL như: Khái niệm, xác định nội dung hoạt động GDNGLL, e 12 thành lập ban chỉ đạo hoạt động GDNGLL và đề ra các biện pháp nâng cao chất lượng quản lý hoạt động GDNGLL [36]. Trong luận văn thạc sỹ năm 2005 “Thực trạng việc quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường trung học cơ sở bán công thành phố Hồ Chí Minh”, tác giả Trần Thị Minh Thi đã đi sâu phân tích thực trạng thể hiện qua các mặt nhận thức, kế hoạch, phân công, sử dụng thời gian, tổ chức các loại hình hoạt động, tổ chức tiết sinh hoạt NGLL, kiểm tra đánh giá,… Qua nghiên cứu thực trạng, tác giả cũng đã đề xuất một số giải pháp để quản lý hoạt động GDNGLL của các trường THCS.BC thành phố Hồ Chí Minh [35]. Bên cạnh những nghiên cứu trên đã có những bài viết, tạp chí và công trình nghiên cứu nói về tầm quan trọng của GDTTCMĐP cho HS: Nói về tầm quan trọng của GDTT dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: "Dân ta phải biết sử ta".