CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC GIÁO DỤC PHÒNG CHỐNG BẠO LỰC HỌC ĐƯỜNG CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1.1 Các nghiên cứu nước ngoài Bạo lực học đường đang là vấn nạn của nhiều nền giáo dục trên thế giới. Đây cũng là đề tài mà nhiều nước trên thế giới nghiên cứu để phòng chống, ngăn chặn. Theo báo cáo của UNESCO(2019)[31], hơn 30% học sinh trên thế giới từng là nạn nhân của việc bắt nạt. Gần một phần ba học sinh đã bị các bạn ở trường bắt nạt ít nhất một lần trong tháng và một tỷ lệ tương tự bị bạo hành thể lý.
Bạo lực học đường và bắt nạt hầu hết do các bạn cùng trang lứa gây ra, nhưng trong một số trường hợp, cũng bởi các giáo viên và nhân viên nhà trường. Hình phạt thể xác vẫn được cho phép trong các trường học ở 67 quốc gia. Nghiên cứu Bắt nạt, tâm lý xã hội điều chỉnh và kết quả học tập ở trường tiểu học của Glew GM (Khoa Tâm thần và khoa học hành vi, Đại học Washington School of Medicine, Mỹ) tiến hành năm 2005 trên 3530 học sinh lớp ba, lớp bốn, lớp năm tại Mỹ. Với mục tiêu xác định tỷ lệ bắt nạt trong trường tiểu học và mối liên quan của nó với nhà trường, thành tích học tập, hành động kỷ luật và cảm giác của bản thân, kết quả nghiên cứu đã cho thấy: 22,0% học sinh được khảo sát đã tham gia vào việc bắt nạt, là nạn nhân bị bắt nạt, hoặc cả hai.
Hướng đến nhóm đối tượng có độ tuổi lớn hơn, năm 2007, đề tài Bắt nạt, bạo lực và hành vi nguy hiểm ở học sinh trung học Nam Phi được LiangH (Cục trẻ em và vị thành niên tâm thần, Viện Tâm Thần, Vương quốc Anh) tiến hành. Nghiên cứu kiểm tra tỉ lệ hành vi bắt nạt của 5074 học sinh vị 9 thành niên đang học lớp 8 và lớp 11 ở 72 trường học ở Cape và Durban, Nam Phi, làm rõ mối liên quan giữa những hành vi này với mức độ bạo lực và các hành vi nguy hiểm ở thanh thiếu niên. Kết quả của cả hai nghiên cứu này đều cho thấy sự phổ biến của hành vi bắt nạt thường xuyên trong trường học là rất đáng kể [15]. Theo tổ chức phát triển cộng đồng tập trung vào trẻ em Plan International và Trung tâm nghiên cứu quốc tế về phụ nữ (ICRW) vừa công bố báo cáo về tình trạng bạo lực trong các trường học ở châu Á.
Báo cáo dựa trên kết quả nghiên cứu và khảo sát thực tế với 9.000 học sinh ở lứa tuổi 12- 17, các giáo viên, hiệu trưởng, cha mẹ học sinh. tại 5 quốc gia Campuchia, Việt Nam, Indonesia, Pakistan và Nepal, thực hiện từ tháng 10/2013 đến tháng 3/2014. Theo báo cáo này, tình trạng bạo lực trong các trường học châu Á đang ở mức báo động. Trung bình cứ 10 học sinh thì có 7 em từng trải nghiệm bạo lực học đường.
Quốc gia có số học sinh hứng chịu nạn bạo lực cao nhất là Indonesia (84%); thấp nhất là Pakistan với 43%. Chỉ tính trong 6 tháng (10/2013-3/2014), số học sinh bị bạo lực (ở mọi hình thức: tinh thần, thể xác.) tại trường học của Indonesia là 75%. Việt Nam với 71%.[32] Tóm lại, các nghiên cứu lí thuyết và thực tiễn về bạo lục nói chung, bạo lực học đường nói riêng ở nước ngoài cho thấy: bạo lực học đường mang những nội dung về bản chất, nguồn gốc của nó dựa trên cơ sở sinh học, xã hội học và tâm lí học và mỗi lí thuyết khác nhau có những cách lí giải khác nhau về nguồn gốc phát sinh cũng như những phương pháp trị liệu khác nhau đối với bạo lực học đường nhưng chưa đưa ra được một phương pháp trị liệu tổng quát cho việc giảm thiểu, ngăn ngừa hành vi này một cách hiệu quả.2 Các nghiên cứu trong nước Hiện nay tình trạng bạo lực học đường có xu hướng gia tăng cả về số vụ việc, mức độ nghiêm trọng cũng như tính chất, xảy ra tại nhiều tỉnh, thành 10 phố trong cả nước, trở thành mối quan tâm của mọi gia đình, nhà trường, nỗi trăn trở của toàn xã hội. Bạo lực học đường (BLHĐ) hiện đã trở thành mối quan tâm của nhiều gia đình, nhà trường và là nỗi trăn trở của toàn xã hội, đã đến lúc cần gióng lên hồi chuông báo động và cần sự vào cuộc của toàn xã hội để ngăn chặn và đẩy lùi tệ nạn này.
Đề tài này cũng thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu như: Tác giả Trần Thị Minh Đức với bài viết “Gây hấn học đường ở học sinh trung học phổ thông” đăng trên Tạp chí nghiên cứu con người, số 3/2010 và cuốn sách chuyên khảo “Hành vi gây hấn phân tích từ góc độ tâm lí học xã hội” đã đề cập đến những vấn đề tâm lý của những trẻ có hành vi gây hấn và tìm hiểu nhận thức của học sinh THPT về hành vi gây hấn, chỉ ra thực trạng, nguyên nhân và hành vi gây hấn ở học sinh THPT. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng đưa ra một số đặc điểm tâm lý - xã hội của HS thực hiện hành vi gây hấn và bị gây hấn; đưa ra một số biện pháp nhằm giảm thiểu, ngăn chặn hành vi gây hấn ở học sinh THPT.[14] Tác giả Lê Vân Anh (2013) với giải pháp ngăn ngừa các hành vi bạo lực học đường trong học sinh THPT, Đề tài khoa học và công nghệ Cấp Bộ, Viện khoa học Giáo dục, Hà Nội. Đề tài đã khái quát thực trạng nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên, học sinh, cộng đồng về quan niệm, hậu quả của BLHĐ, về trách nhiệm của các bên trong việc tham gia phòng ngừa, ngăn chặn tình trạng BLHĐ và nêu ra các biện pháp nhà trường đã tiến hành để phòng ngừa, ngăn chặn tình trạng BLHĐ. Kỹ năng phòng chống bạo lực học đường, nhà xuất bản Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh.
Đề tài khoa học xây dựng cẩm nang tuyên truyền nhằm phòng chống bạo lực học đường cho học sinh THCS giúp học sinh có thể lĩnh hội, nâng cao hiểu biết của mình về bạo lực học đường, phát triển kỹ năng xử lí các tình huống, cũng như tự 11 bảo vệ bản thân.[27] Tác giả Phạm Duy Sơn (2019) với đề tài “Quản lý hoạt động giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường cho học sinh ở các trường phổ thông dân tộc bán trú THCS huyện Kon Plông tỉnh Kon Tum” – luận văn thạc sỹ, Trường ĐH Đà Nẵng; Đề tài đã nghiên cứu lý luận về quản lý hoạt động giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường cho học sinh ở các trường PTDT bán trú THCS. Đánh giá thực trạng về quản lý hoạt động giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường cho HS ở các trường PTDT bán trú THCS huyện Kon Plông, tỉnh Kon Tum. Đề xuất biện pháp quản lý hoạt động giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường cho hs ở các trường PTDT bán trú THCS huyện Kon Plông, tỉnh Kon Tum.[26] Qua nội dung phân tích ở trên có thể thấy đã có nhiều bài viết, công trình nghiên cứu cung cấp cho chúng ta có cách nhìn thấu đáo hơn về hậu quả của bạo lực học đường đối với gia đình, nhà trường và chính các em HS: Thực trạng, nguyên nhân và giải pháp… Tuy nhiên, huyện Phù Cát, chưa có đề tài đi sâu nghiên cứu về quản lý công tác phòng chống bạo lực học đường cho HS ở các trường THPT. Do đó, đề tài nghiên cứu “Quản lý công tác giáo dục phòng chống bạo lực học đường cho học sinh các trường trung học phổ thông ở huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định” vừa có cơ hội kế thừa các nghiên cứu đã có, vừa có tính mới trong việc vận dụng vào một địa bàn cụ thể, với những đặc điểm riêng.2 Các khái niệm chính của đề tài 1.1 Quản lý Các tác giả Bùi Minh Hiền, Vũ Ngọc Hải, Đặng Quốc Bảo đã định nghĩa:“Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra” [16].
Tác giả Nguyễn Ngọc Quang đưa ra lại cụ thể hóa quy trình và mối 12 quan hệ trong quản lý hơn so với các khái niệm trên. Ông cho rằng: Quản lý là những tác động có định hướng, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng bị quản lý trong tổ chức để vận hành tổ chức, nhằm đạt mục đích nhất định [25]. Như vậy, khi đề cập đến khái niệm quản lý, các tác giả đều có điểm thống nhất chung: đó là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý để đạt mục tiêu nhất định. Từ các khái niệm trên, theo chúng tôi: Quản lý là một quá trình tác động có chủ định của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý thông qua thực hiện các chức năng quản lý để đưa tổ chức đạt được mục tiêu đã đề ra.2 Quản lý giáo dục Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quan là hoạt động điều hành, phối hợp › các lưc ̣›lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội.
Ngày nay, với sứ mệnh phát triển giáo dục thường xuyên, công tác giáo dục không chỉ giới haṇ ở thế hệ trẻ mà còn giáo dục cho mọi người. Quản lý nhà trường, quản lý giáo dục là tổ chức hoạt động day học, › hoạt động giáo dục, vận hành nhà trường, cơ sở giáo dục phù hợp với chức năng, sứ mệnh, tính chất của nhà trường, cơ sở giáo dục. Quản lý giáo dục được tiếp cận dưới hai góc độ đó là góc độ vĩ mô và góc độ vi mô. Ở góc độ vi mô chủ thể quản lý giáo dục là hệ thống các cơ quan quản lý giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân, đối tượng của quản lý là hệ thống giáo dục quốc dân và hệ thống quản lý, muc tiêu của quản lý là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước, vì vậy khái niệm quản lý giáo dục có thể hiểu như sau: Quản lý giáo dục là những tác động có hệ thống, có mục đích, hơp quy luật và chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của hệ 13 thống giáo dục, nhằm đảm bảo cho hệ thống giáo dục vận hành, phát triển, thưc hiện mục tiêu của nền giáo dục.