phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục nội dung, luận văn được trình bày trong 3 chương: z 15 Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về vấn đề quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng và giá trị sống cho đoàn viên Đoàn TNCS Hồ Chí Minh. Chƣơng 2: Thực trạng hoạt động giáo dục kỹ năng và giá trị sống ; quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng và giá trị sống cho đoàn viên Đoàn TNCS Hồ Chí Minh tại Nhà văn hóa Học sinh – Sinh viên Hà Nội. Chƣơng 3: Các biện pháp tăng cường quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng và giá trị sống cho đoàn viên Đoàn TNCS Hồ Chí Minh tại Nhà văn hóa Học sinh – Sinh viên Hà Nội. z 16 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG VÀ GIÁ TRỊ SỐNG CHO ĐOÀN VIÊN ĐOÀN THANH NIÊN CỘNG SẢN HỒ CHÍ MINH 1.
Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề Nghiên cứu về giáo dục chính trị tư tưởng cho đoàn viên TNCS Hồ Chí Minh là một nội dung giáo dục quan trọng giúp tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh thực hiện mục tiêu giáo dục cho thế hệ trẻ. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng căn dặn Đảng và các cấp chính quyền cần chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho thanh niên, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên”. Điểm nổi bật trong quan điểm giáo dục lý tưởng cho thanh niên của Bác Hồ là đưa thanh niên vào các tổ chức chính trị, xã hội do Đảng lãnh đạo để vừa giác ngộ lý tưởng cách mạng cho họ, vừa đưa họ hoạt động thực tiễn đấu tranh cách mạng của toàn dân tộc. với quan điểm “đạo đức là gốc của cách mạng”, Bác Hồ quan tâm giáo dục thanh niên không chỉ có tinh thần làm chủ nước nhà mà phải thường xuyên rèn luyện bản lĩnh chính trị, trau dồi đạo đức cách mạng… Thấm nhuần tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong những năm qua Đảng và Nhà nước ta đã quan tâm chăm lo phát triển công tác thanh niên.
Nghị quyết số 25NQ/TƯ ngày 25/7/2008 của BCH Trung ương Đảng khoá X về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên thời kì đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá” đã xác định: Thanh niên là rường cột của nước nhà, chủ nhân tương lai của đất nước, là lực lượng xung kích trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, một trong những nhân tố quyết định sự thành bại của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, hội nhập quốc tế và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Thanh niên được đặt ở vị trí trung tâm trong chiến lược bồi dưỡng, phát huy nhân tố và nguồn lực con người. Chăm lo, phát triển thanh niên vừa là muc tiêu, vừa là động lực đảm bảo cho sự ổn định và phát triển z 17 vững bền của đất nước. Chăm lo, bồi dưỡng, giao dục thanh niên thành lớp người “vừa hồng vừa chuyên” theo tư tưởng Hồ Chí Minh là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng, vai trò quan trọng của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, gia đình, nhà trường và xã hội.
Hiện nay, công tác giáo dục chính trị tư tưởng, rèn luyện kỹ năng và giá trị sống của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh trong các nhà trường, hay theo các mô hình hoạt động dạy kỹ năng và giá trị sống ngoài nhà trường, phối hợp cùng các biện pháp nuôi dạy của các bậc cha mẹ trong lĩnh vực gia đình là một trong những nội dung góp phần quan trọng vào công tác giáo dục toàn diện cho học sinh, sinh viên, bởi ngoài kiến thức chuyên môn, học sinh, sinh viên rất cần được trau dồi tư tưởng, đạo đức, lối sống. Việc giáo dục rèn luyện kỹ năng và giá trị sống là định hướng đúng đắn hành động, suy nghĩ của sinh viên sẽ giúp bồi dưỡng cho sinh viên lòng yêu nước, sự quan tâm tới cộng đồng. Hơn thế nữa, giúp họ dần tạo lập và kiên định lập trường chính trị. Đây là một công tác quan trọng, là tiền đề để chúng ta có thể đào tạo ra một thế hệ con người mới vừa giỏi chuyên môn, vừa vững vàng về lập trường chính trị, từ đó đưa đất nước phát triển lên một tầm cao mới.
Trong những năm gần đây, trước vấn đề hội nhập, công tác giáo dục, chính trị tư tưởng, rèn luyện kỹ năng và giá trị sống cho đoàn viên, học sinh, sinh viên trong các nhà trường được Đảng, Nhà nước, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh và ngành giáo dục quan tâm thể hiện qua Văn kiện, các chỉ thị, nghị quyết, các quyết định về công tác giáo dục chính trị tư tưởng cụ thể là: + Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI (nhiệm kỳ 2011 – 2016) phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, kinh tế trí thức, bảo vệ môi trường. + Văn kiện Đại hội Đảng bộ thành phố Hà Nộ khóa XV (nhiệm kỳ 2010 – 2015) về phát triển khoa học công nghệ, giáo dục đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. z 18 + Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X (nhiệm kỳ 2012 – 2017) về tăng cường bồi dưỡng lý tưởng cách mạng, giáo dục đạo đức lối sống, cổ vũ thanh niên thi đua học tập, rèn luyện, lao động sáng tạo, xung kích, tình nguyện xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. + Nghị quyết số 03NQ/TWĐTN ngày 03/11/2009 của BCH Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh khoá IX về “Đổi mới phương thức giáo dục của Đoàn trong tình hình mới”.
+ Nghị quyết Trung ương 5 khoá IX từng bước đổi mới công tác giáo dục chính trị tư tưởng. + Văn kiện Đại hội Hội Sinh viên thành phố Hà Nội khóa IV ( nhiệm kỳ 2008 – 2013 ) phát huy truyền thống ngàn năm văn hiến – anh hung, sinh viên Hà Nội rèn đức luyện tài vì Thủ đô phát triển, đất nước phồn vinh. + Quyết định số 50/2007/BGD&ĐT ngày 29/8/2007 giáo dục phẩm chất chính trị đạo đức lối sống cho học sinh, sinh viên trong các trường Đại học, Cao đẳng, Trung cấp chuyên nghiệp. + Công văn số 6051/BGD&ĐT – CTHSSV ngày 21/7/2009 của Bộ Giáo dục và đào tạo tổ chức “Tuần sinh hoạt công dân” học sinh, sinh viên trong các trường Đại học, Cao đẳng, Trung cấp chuyên nghiệp năm 2009.
Đồng thời, cũng có các công trình đã nghiên cứu về hoạt động giáo dục đạo đức, lối sống, giáo dục pháp luật trong học sinh, sinh viên. Tuy nhiên, nghiên cứu về thực trạng “Quản lý hoạt động giáo dục Kỹ năng và giá trị sống cho đoàn viên Đoàn TNCS Hồ Chí Minh tại Nhà văn hóa Học sinh – Sinh viên Hà Nội” để đề xuất các biện pháp hiệu quả trong quản lý hoạt động giáo dục Kỹ năng và giá trị sống cho đoàn viên ở tại Nhà văn hóa Học sinh – Sinh viên Hà Nội thì chưa có công trình nào nghiên cứu. Một số khái niệm cơ bản của đề tài 1. Quản lý Hiện nay, còn có những khái niệm khác nhau khi nói về quản lý: z 19 K.Markx cho rằng : “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó.
Một người độc tấu vĩ cầm tự điều khiển lấy mình, còn một dàn nhác thì cần phải có một nhạc trưởng” [20, tr.Markx đã cho chúng ta hiểu bản chất quản lý là một hoạt động lao động để điều khiển lao động, một hoạt động tất yếu vô cùng quan trọng trong quá trình phát triển của xã hội loài người. Quản lý đã trở thành một hoạt động phổ biến, mọi lúc, mọi nơi, mọi lĩnh vực, mọi cấp độ và có liên quan đến mọi người. Đó là một loại hoạt động xã hội bắt nguồn từ tính chất cộng đồng dựa trên sự phân công và hợp tác để làm một công việc nhằm đạt một mục tiêu chung. Knoontz cũng nhấn mạnh: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo sự phối hợp những nỗ lực của các cá nhân nhằm đạt được mục đích của nhóm (tổ chức).
Mục đích của mọi nhà quản lý là nhằm hình thành môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của mình với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất” [29, tr. Các tác giả Việt Nam cũng có nhiều công trình nghiên cứu về khoa học quản lý và khái niệm quản lý được giải trình từ nhiều góc độ. Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động (nói chung là khách thể quản lý) nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến”[22, tr. Theo các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc thì “Hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [4, tr.
z 20 Tác giả Phạm Văn Kha khẳng định “Quản lý là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra công việc của các thành viên thuộc một hệ thống đơn vị và việc sử dụng các nguồn lực để đạt được các mục đích đã định” [19, tr. Những định nghĩa trên khác nhau về cách diễn đạt nhưng đều gặp nhau ở những nội dung cơ bản, quản lý phải bao gồm các yếu tố (các điều kiện) sau: + Phải có ít nhất một chủ thể quản lý là tác nhân tạo ra các tác động và ít nhất là một đối tượng bị quản lý tiếp nhận trực tiếp các tác động của chủ thể quản lý tạo ra và các khách thể khác chịu tác động gián tiếp của chủ thể quản lý. Tác động này chỉ là một lần mà cũng có thể là liên tục nhiều lần. + Phải có mục tiêu và một quỹ đạo đặt ra cho cả đối tượng và chủ thể, mục tiêu này là căn cứ để chủ thể tạo ra các tác động.
+ Chủ thể có thể là một người, nhiều người, còn đối tượng có thể là một hoặc nhiều người (trong tổ chức xã hội).