phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục nghiên cứu, luận văn gồm có 03 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THCS Chƣơng 2: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THCS tại các trƣờng công lập tại thị xã Dĩ An tỉnh Bình Dƣơng. Chƣơng 3: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THCS tại các trƣờng công lập tại thị xã Dĩ An tỉnh Bình Dƣơng. Tài liệu tham khảo Phụ lục 8 Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LU N VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH THCS 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu vấn đề 1. Các công trình nghiên cứu ở ngoài nước Từ những năm 90 của thế kỷ XX, trên thế giới thuật ngữ “Kỹ năng sống” đã xuất hiện trong một số chƣơng trình giáo dục của Quỹ Nhi Đồng Liên Hiệp Quốc (UNICEF) trƣớc tiên là chƣơng trình “Giáo dục những giá trị sống” với 12 giá trị cơ bản cần giáo dục cho thế hệ trẻ (WHO-2009) Những nghiên cứu trong giai đoạn này thống nhất một số quan niệm chung về KNS và hệ thống các kỹ năng cơ bản cần có cho thế hệ trẻ.
Hội nghị giáo dục thế giới họp tại Senegan tháng 4-2000 đã thông qua kế hoạch hành động cho mọi ngƣời (Kế hoạch hành động Dakar) khẳng định tầm quan trọng của kĩ năng sống và giáo dục kĩ năng sống, theo đó, mỗi quốc gia cần đảm bảo cho ngƣời học đƣợc tiếp cận chƣơng trình giáo dục kĩ năng sống phù hợp. Ngƣời ta coi kĩ năng sống là của ngƣời học là một tiêu chí về chất lƣợng giáo dục. Đánh giá chất lƣợng giáo dục có tính đến những tiêu chí đánh giá kĩ năng sống của ngƣời học (Darkar Framework for action – 2010). Ngay từ những năm 1960, tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục của Liên Hiệp Quốc (UNESCO) đã vạch rõ ba thành tố của học vấn, đó là: kiến thức, kỹ năng và thái độ, trong đó thái độ và kỹ năng đóng vai trò then chốt và cho rằng KNS là năng lực cá nhân, giúp cho việc thực hiện đầy đủ chức năng và tham gia vào cuộc sống hàng ngày.
Hệ thống KNS gồm 2 nhóm kỹ năng: 1) Những KNS chung gồm: kỹ năng nhận thức, kỹ năng đƣơng đầu với cảm xúc, kỹ năng xã hội hay kỹ năng tƣơng tác. 2) Những kỹ năng trong từng vấn đề cụ thể nhƣ: các vấn đề về giới, phòng chống bạo lực, gia đình và cộng đồng, bảo vệ thiên nhiên và môi trƣờng (Nguyễn Thanh Bình – 2013, 2009, 2008). Theo tổ chức UNICEF (Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc) những thử thách mà trẻ em và thanh niên phải đối mặt là rất nhiều và đòi hỏi cao hơn là kỹ năng đọc, viết, tính toán; GDKNS là tạo ra sự thay đổi hành vi, là khả năng chuyển đổi kiến thức và thái độ thành hành động. UNICEF đề nghị hệ thống KNS gồm 3 9 nhóm kỹ năng đƣợc nhìn nhận dƣới góc độ tồn tại và phát triển cá nhân bao gồm: 1) Nhóm kỹ năng tự nhận thức và sống với chính mình: kỹ năng tự nhận thức và đánh giá bản thân, kỹ năng xây dựng mục tiêu cuộc sống, kỹ năng bảo vệ bản thân, .2) Nhóm kỹ năng tự nhận thức và sống với ngƣời khác: kỹ năng thiết lập quan hệ, kỹ năng hợp tác, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng làm việc nhóm, .3) Nhóm kỹ năng ra quyết định và làm việc hiệu quả: kỹ năng phân tích vấn đề, kỹ năng nhận thức thực tế, kỹ năng ra quyết định, kỹ năng ứng xử, kỹ năng giải quyết vấn đề (Nguyễn Thanh Bình – 2013, 2009, 2008).
Tổ chức y tế thế giới (viết tắt là WHO) coi kỹ năng sống là năng lực tâm lý xã hội để đáp ứng và đối phó với những yêu cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày. Cụ thể hơn, nó là khả năng ứng phó một cách hiệu quả với những yêu cầu và thách thức của cuộc sống, đó cũng là khả năng một cá nhân duy trì trạng thái khỏe mạnh về tinh thần biểu hiện qua các hành vi tích cực và phù hợp khi tƣơng tác với ngƣời khác, với nền văn hóa và môi trƣờng xung quanh; năng lực tâm lý xã hội có vai trò phát huy sức khỏe về thể chất, tinh thần và xã hội (Nguyễn Thanh Bình – 2013, 2009, 2008). Ở các nƣớc nhƣ Lào, Campuchia, Malaysia, Bangladesh, chƣơng trình giáo dục KNS đƣợc đƣa vào lĩnh vực giáo dục chính quy dƣới dạng tích hợp vào các môn học cơ bản hay một môn riêng, còn một số nƣớc khác thì tập trung vào lĩnh vực phi chính quy nhƣ Indonesia, Thái Lan, Philipine, Nepal, Brutan. Những nội dung giáo dục chủ yếu ở hầu hết các nƣớc này là trang bị cho ngƣời trẻ tuổi những KNS cần thiết nhằm nâng cao tiềm năng của con ngƣời, để có hành vi thích ứng và tích cực đáp ứng nhu cầu, sự thay đổi và nâng cao chất lƣợng cuộc sống, mục đích chính là dạy – trang bị và hình thành.
Mặc dù, giáo dục KNS đã đƣợc nhiều nƣớc trên thế giới quan tâm và cùng xuất phát từ quan niệm chung về kỹ năng sống của WHO hoặc UNESCO, nhƣng quan niệm và nội dung giáo dục KNS ở các nƣớc không giống nhau là do nó vừa thể hiện cái chung vừa mang tính đặc thù của từng quốc gia. Nhìn chung các quốc gia cũng mới bƣớc đầu triển khai giáo dục kĩ năng sống nên chƣa thật toàn diện và sâu sắc, vì chƣa có quốc gia nào đƣa ra đƣợc kinh nghiệm hoặc hệ thống tiêu chí đánh giá chất lƣợng kĩ 10 năng sống (Nguyễn Thanh Bình – 2013, 2009, 2008). Các công trình nghiên cứu ở trong nước Thuật ngữ kĩ năng sống đƣợc ngƣời Việt Nam biết đến bắt đầu từ chƣơng trình của UNICEF (1996) “Giáo dục kĩ năng sống để bảo vệ sức khỏe và phòng chống HIV/AIDS cho thanh thiếu niên trong và ngoài nhà trƣờng” quan niệm về kĩ năng sống đƣợc giới thiệu trong chƣơng trình chỉ bao gồm những kĩ năng sống cốt lõi nhƣ: kĩ năng tự nhận thức, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng xác định giá trị, kĩ năng ra quyết định, kĩ năng kiên định, kĩ năng đặt mục tiêu,. nhằm vào các chủ đề giáo dục sức khỏe do các chuyên gia Úc tập huấn (Nguyễn Thanh Bình – 2013, 2009, 2008).
Một trong những ngƣời đầu tiên và là ngƣời có những nghiên cứu mang tính hệ thống về kĩ năng sống và giáo dục kĩ năng sống ở Việt Nam là tác giả Nguyễn Thanh Bình. Với một loạt các bài báo, các đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ và giáo trình, tài liệu tham khảo (Nguyễn Thanh Bình – 2013, 2009, 2008) tác giả Nguyễn Thành Bình đã góp phần đáng kể vào việc tạo ra những hƣớng nghiên cứu về kĩ năng sống và giáo dục kĩ năng sống ở Việt Nam. Nghiên cứu của tác giả đã chỉ rõ: chƣơng trình, tài liệu giáo dục kĩ năng sống đƣợc thiết kế cho giáo dục không chính quy là phổ biến và rất đa dạng về hình thức, cụ thể là: + Lồng ghép vào chƣơng trình dạy chữ, học vấn vào tất cả các môn học và các chƣơng trình ở các mức độ khác nhau. Ví dụ: có nƣớc lồng ghép dạy kĩ năng sống vào các chƣơng trình dạy chữ cơ bản nhằm xoá mù chữ.
Bên cạnh dạy chữ có kết hợp dạy kĩ năng làm nông nghiệp, kĩ năng bảo tồn môi trƣờng, sức khỏe, HIV/AIDS; + Dạy các chuyên đề cần thiết cho ngƣời học. Ví dụ: tạo thu nhập; môi trƣờng, kĩ năng nghề; kĩ năng kinh doanh. Trong cuốn “Giáo trình Giáo dục kĩ năng sống” Nguyễn Thanh Bình khẳng định những yêu cầu cụ thể đối với việc đổi mới nội dung chƣơng trình và phƣơng pháp dạy học. Tác giả cho rằng: “Cốt lõi của việc đổi mới phƣơng pháp dạy học là hƣớng vào học tập chủ động, chống thói quen thụ động, đồng thời coi 11 dạy học thông qua tổ chức hoạt động của học sinh là đặc trƣng thứ nhất của phƣơng pháp dạy học tích cực” (Nguyễn Thanh Bình – 2013, 2009, 2008 &Hoàng Thúy Nga, 2016) Năm 2009, tác giả Huỳnh Văn Sơn xuất bản ấn phẩm “Nhập môn kỹ năng sống” với các nội dung cơ bản: những vấn đề chung về kĩ năng sống và một số kĩ năng sống cơ bản,.
Bên cạnh đó, tác giả cũng đƣa ra giá trị của việc hình thành các kĩ năng này đối với đời sống của mỗi cá nhân để từ đó mỗi ngƣời có ý thức rèn luyện để hình thành nên những kĩ năng đó trong chính cuộc sống của mình, cũng theo tác giả này “Kỹ năng sống là những kỹ năng tinh thần hay những kỹ năng tâm lý, kỹ năng tâm lý – xã hội cơ bản giúp cho cá nhân tồn tại và thích ứng trong cuộc sống. Những kỹ năng này giúp cho cá nhân thể hiện đƣợc chính mình cũng nhƣ tạo ra những nội lực cần thiết để thích nghi và phát triển. Kỹ năng sống còn đƣợc xem nhƣ một biểu hiện quan trọng của năng lực tâm lý xã hội giúp cho cá nhân vững vàng trƣớc cuộc sống có nhiều thách thức nhƣng cũng nhiều cơ hội trong thực tại. Trong cuốn “Kỹ năng sống cho tuổi vị thành niên”, Th.S Nguyễn Thị Oanh cũng trình bày quan điểm: “Kỹ năng sống với tƣ cách là đối tƣợng của giáo dục kỹ năng sống là năng lực tâm lý xã hội để đáp ứng và đối phó với những yêu cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày” (Nguyễn Hữu Long, Nguyễn Ngọc Duy, Võ Minh Thành, 2016).