CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Ở nước ngoài Ngày nay, do yêu cầu của sự phát triển kinh tế - xã hội và xu thế hội nhập phát triển của các quốc gia nên hệ thống GD của các nước đã và đang thay đổi theo định hướng khơi dậy và phát huy tối đa các tiềm năng của người học; đào tạo một thế hệ năng động, sáng tạo, có những năng lực chủ yếu (năng lực thích ứng, năng lực tự hoàn thiện, năng lực hợp tác, năng lực hoạt động xã hội) để thích ứng với những thay đổi nhanh chóng của xã hội. Theo đó, vấn đề GDKNS cho thế hệ trẻ nói chung, cho HS phổ thông nói riêng được rất nhiều nước trên thế giới quan tâm.
Ngay từ giữa những năm 90 của thế kỷ XX, các tổ chức Liên Hiệp Quốc như Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc (UNICEF), Tổ chức văn hóa, khoa học và giáo dục của Liên Hiệp Quốc (UNESCO) và tổ chức y tế thế giới (WHO) đã chung tay xây dựng chương trình GDKNS cho thanh thiếu niên. Bởi lẽ những thử thách mà trẻ em và thanh niên phải đối mặt là rất nhiều và đòi hỏi cao hơn là những kỹ năng đọc, viết, tính toán tốt nhất. Năm 1996, Chủ tịch Ủy ban UNESCO về Giáo dục cho thế kỷ XXI (UNESCO Commission on Education for the Twenty-First Century) Jacques Delors đã công bố bản báo cáo có tiêu đề tiếng Anh là: Learning: The Treasure Within, có thể dịch sang tiếng Việt là “Học tập: Một tài sản tiềm ẩn”. Trong đó đề xuất bốn mục tiêu trụ cột của việc học tập là “Học để biết, học để làm, học để cùng chung sống, học để tự khẳng định mình” [42, tr.
Trong diễn đàn thế giới về GD cho mọi người họp tại Senegan (2000), chương trình hành động Dakar đã đề ra 6 mục tiêu, trong đó mục tiêu thứ ba nói rằng “Mỗi quốc gia phải đảm bảo cho người học được tiếp cận một cách e 8 bình đẳng các chương trình GDKNS và học tập phù hợp” [46, tr.16], còn trong mục tiêu thứ sáu yêu cầu “Khi đánh giá chất lượng GD cần phải đánh giá tất cả mọi khía cạnh của chất lượng giáo dục, đặc biệt là kỹ năng đọc, viết và KNS thiết yếu của người học” [46, tr. Như vậy, GDKNS cho người học đang trở thành một nhiệm vụ quan trọng đối với GD các nước. Ở các nước có nền GD phát triển như Mỹ, Úc, Canada, Anh…, KNS từ lâu đã được chú trọng. Thanh thiếu niên đã được học những KNS về những tình huống sẽ xảy ra trong cuộc sống, cách đối diện, đương đầu với những khó khăn, cách vượt qua những khó khăn đó cũng như cách tránh những mâu thuẫn, xung đột, bạo lực.
Một số nước Châu Á cũng đã nghiên cứu và triển khai chương trình dạy KNS ở các cấp học, bậc học. Mục tiêu chung của GDKNS được xác định là nhằm nâng cao tiềm năng của con người để có những hành vi thích ứng và tích cực nhằm đáp ứng nhu cầu, sự thay đổi, các tình huống của cuộc sống hằng ngày, đồng thời tạo sự đổi thay và nâng cao chất lượng cuộc sống. Với mục đích nhắm tới yếu tố cá nhân của người học, các nước cũng đã đưa ra cách thiết kế chương trình GDKNS với các hình thức, nội dung và mức độ khác nhau. Mặc dù, GDKNS cho HS đã được nhiều nước quan tâm và cũng xuất phát từ quan niệm chung về KNS của WHO hoặc của UNESCO nhưng ở mỗi quốc gia trên thế giới đều có sự khác biệt về quan niệm và nội dung, có nước thực hiện theo đúng chuẩn kỹ năng nhưng cũng có nước mở rộng thêm chứ không chỉ bao hàm KNS là những kỹ năng về tâm lý, xã hội.
Những quan niệm, nội dung GDKNS được triển khai vừa thể hiện nét chung, vừa thể hiện nét đặc thù của từng quốc gia. Ở Việt Nam Thuật ngữ KNS bắt đầu xuất hiện trong nhà trường Việt Nam từ những năm 1995 - 1996, thông qua dự án “GDKNS để bảo vệ sức khỏe và phòng e 9 chống HIV/AIDS cho thanh thiếu niên trong và ngoài nhà trường” do Quỹ Nhi đồng Liên hiệp quốc (UNICEF) phối hợp với Bộ GDĐT cùng Hội Chữ thập đỏ Việt Nam thực hiện. Chương trình này mới được tiến hành thực nghiệm cho HS THCS và trẻ em ngoài trường học ở một số tỉnh, thành trong nước. Các em tiếp cận với thông tin và kiến thức liên quan đến các vấn đề sống an toàn, mạnh khỏe và phòng tránh HIV; rèn luyện KNS thiết thực để ứng phó với các vấn đề ảnh hưởng đến cuộc sống an toàn khỏe mạnh của trẻ em như HIV, ma túy và các chất gây nghiện khác, vấn đề quan hệ tình dục sớm… Mục tiêu Chương trình là hình thành thái độ tích cực của HS đối với việc xây dựng cuộc sống khỏe về thể chất, mạnh về tinh thần, hiểu biết về xã hội; nâng cao nhận thức của cha mẹ học sinh về KNS… để họ chủ động trong việc truyền thụ kiến thức, kỹ năng cho con em mình.
Cho đến những năm gần đây, KNS trở thành thuật ngữ được nhắc đến và đề cập nhiều hơn bao giờ hết trong những chương trình về GD. Và từ đó, GDKNS cho HS nói riêng, thế hệ trẻ nói chung trở thành vấn đề không chỉ được ngành GD mà được cả xã hội quan tâm. Có nhiều công trình nghiên cứu về GDKNS như: Tác giả Nguyễn Thanh Bình, với nhiều bài báo, các đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ và chương trình, tài liệu tham khảo [4], [5], [6], [7], [8], [9] đã góp phần đáng kể vào việc hình thành hướng nghiên cứu về KNS và GDKNS ở Việt Nam. Có thể nói tác giả đã thành công khi triển khai nghiên cứu tổng quan về quá trình nhận thức về KNS, đề xuất yêu cầu tiếp cận KNS trong GD và GDKNS ở nhà trường phổ thông.
Trên cơ sở phân tích, so sánh, tổng kết kinh nghiệm thực tiễn, tác giả đã xây dựng được khung lý luận về GDKNS từ việc xác định thuật ngữ, mục tiêu, nhiệm vụ, nội dung, nguyên tắc, phương pháp giáo dục cho đến đánh giá kết quả và tác động của GDKNS. e 10 Theo hướng nghiên cứu này, còn một số công trình nghiên cứu khác như: “Quan niệm về KNS hiện nay” [35], “Nhập môn về KNS” [36] của tác giả Huỳnh Văn Sơn và một số công trình nghiên cứu của các tác giả khác [15], [25], [32], [38], [39]. Bằng kinh nghiệm sau nhiều năm nghiên cứu, nhóm tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Đinh Thị Kim Thoa, Đặng Hoàng Minh đã cho ra đời cuốn sách “Giáo dục giá trị sống (GTS) và kỹ năng sống cho HS trung học cơ sở” [29]. Cuốn sách được viết lồng ghép giữa GD GTS và KNS, trong đó GD GTS là nền tảng, KNS là công cụ và phương tiện để tiếp nhận và thể hiện GTS.
Đây là tiền đề để đưa công tác GD GTS, KNS cho HS THCS vào nhà trường. Năm 2012, tác giả Lục Thị Nga, Nguyễn Thanh Bình đã biên soạn cuốn sách “Hiệu trưởng trường Trung học với vấn đề giáo dục GTS, KNS và giao tiếp ứng xử trong quản lý” [31]. Đây là cuốn sách dùng làm tài liệu tập huấn cho cốt cán trường THCS, THPT theo kế hoạch số 444/KH-BGDĐT ngày 31 tháng 5 năm 2012 của Bộ GDĐT. Có thể nói tài liệu này là cẩm nang quý giá dành cho các nhà QLGD.
Thời gian qua một số luận án tiến sĩ và luận văn thạc sĩ chuyên ngành QLGD cũng đã nghiên cứu vấn đề này: Luận án tiến sĩ của Hoàng Thúy Nga: Quản lý HĐGDKNS cho học sinh tiểu học thành phố Hà Nội – 2016; các luận văn thạc sĩ: Ngô Pháp Văn Tuấn: Biện quản lý HĐGDKNS cho HS, sinh viên trường Cao đẳng Điện lực Miền trung - 2011; Lữ Thị Kim Hoa: Biện pháp quản lý công tác GDKNS cho HS trong các trường tiểu học quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng - 2012; Lại Thị Ngọc Duyên: Biện pháp quản lý GDKNS cho sinh viên trường Đại học Đồng Nai - 2105; Thạch Thị Yến Linh: Quản lý HĐGDKNS cho học sinh các trường phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Trà Vinh - 2016; Nguyễn Thị Thơm: Quản lý HĐGDKNS cho học sinh các trường trung học phổ thông thành phố Quy Nhơn tỉnh Bình Định – 2016. Nhìn chung các e 11 đề tài này đều đã đưa ra được các lý luận và các biện pháp cần thiết, khả thi cho tổ chức, quản lý HĐGDKNS cho các đối tượng học sinh, sinh viên. Tuy nhiên, hầu như không có đề tài nào nghiên cứu đến việc quản lý HĐGDKNS cho học sinh THCS. Vì vậy đề tài của tác giả với mong muốn nâng cao hiệu quả quản lý HĐGDKNS cho học sinh các trường THCS huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên nhằm tạo ra sự thống nhất trong nhận thức và hành động góp phần nâng cao chất lượng GD toàn diện của các nhà trường.
Ngày 22/07/2008, Bộ GDĐT đã ra Chỉ thị về việc phát động phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, HS tích cực” trong các trường phổ thông giai đoạn 2008 - 2013 với mục tiêu liên quan đến KNS là: “Rèn luyện kỹ năng ứng xử hợp lý với các tình huống trong cuộc sống, thói quen và kỹ năng làm việc, sinh hoạt theo nhóm, kỹ năng phòng, chống tai nạn giao thông, đuối nước và các tai nạn thương tích khác; rèn luyện kỹ năng ứng xử văn hóa, chung sống hòa bình, phòng ngừa bạo lực và các tệ nạn xã hội” [10]. Từ năm 2009 - 2010, Bộ GDĐT đã đưa ra chương trình GDKNS cho HS vào Chỉ thị thực hiện nhiệm vụ năm học. Ngày 04/11/2013, Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) cũng đã ban hành Nghị quyết số 29- NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện GDĐT, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế với mục tiêu cụ thể liên quan đến KNS là “tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho HS.