Quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên trường cao đẳng sư phạm miền Đông Nam Bộ

Luận án tiến sĩ khoa học giáo dục nghiên cứu quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên trường cao đẳng sư phạm miền Đông Nam Bộ.

Chuyên ngành

Quản Lý Giáo Dục

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2013

104
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. MỞ ĐẦU

1.1. Lý do nghiên cứu

1.2. Khách thể nghiên cứu

1.3. Đối tượng nghiên cứu

1.4. Phạm vi nghiên cứu

1.5. Giả thuyết khoa học

1.6. Những luận điểm cần bảo vệ

1.7. Đóng góp mới của luận án

2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP CHO SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM

2.1. Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề

2.2. Nghiên cứu về đạo đức nghề nghiệp và đạo đức nghề nghiệp sư phạm

Tài liệu tham khảo

Phụ lục

Tóm tắt

I. Quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp

Quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp là một yếu tố quan trọng trong việc đào tạo sinh viên cao đẳng sư phạm. Nghiên cứu này tập trung vào việc đánh giá thực trạng và đề xuất các biện pháp quản lý hiệu quả. Đạo đức nghề nghiệp không chỉ là chuẩn mực mà còn là nền tảng để hình thành nhân cách người giáo viên. Các trường cao đẳng sư phạm miền Đông Nam Bộ đang đối mặt với nhiều thách thức trong việc giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên. Việc quản lý cần phải đồng bộ và có sự phối hợp giữa các lực lượng giáo dục.

1.1. Thực trạng đạo đức nghề nghiệp

Thực trạng đạo đức nghề nghiệp của sinh viên sư phạm tại các trường cao đẳng sư phạm miền Đông Nam Bộ cho thấy nhiều bất cập. Nhận thức về chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp còn hạn chế, thái độ và hành vi của sinh viên chưa đáp ứng yêu cầu. Công tác giáo dục đạo đức chưa được chú trọng đúng mức, dẫn đến hiệu quả thấp. Cần có sự đánh giá toàn diện và đề xuất các biện pháp cải thiện.

1.2. Quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp

Quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp đòi hỏi sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội. Các biện pháp quản lý cần tập trung vào việc xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện và kiểm tra đánh giá. Việc cải tiến thực tập sư phạm là một trong những biện pháp hiệu quả nhất. Cần tạo ra môi trường giáo dục tích cực để sinh viên rèn luyện và phát triển đạo đức nghề nghiệp.

II. Giáo dục đạo đức nghề nghiệp

Giáo dục đạo đức nghề nghiệp là quá trình hình thành nhân cách và phẩm chất nghề nghiệp cho sinh viên sư phạm. Nghiên cứu này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc giáo dục đạo đức ngay từ giai đoạn đào tạo. Các trường cao đẳng sư phạm cần xây dựng chương trình giáo dục đạo đức phù hợp với yêu cầu thực tiễn. Việc giáo dục đạo đức không chỉ dừng lại ở lý thuyết mà cần được áp dụng vào thực tiễn giảng dạy.

2.1. Mục tiêu giáo dục đạo đức nghề nghiệp

Mục tiêu của giáo dục đạo đức nghề nghiệp là hình thành nhân cách và phẩm chất nghề nghiệp cho sinh viên sư phạm. Cần xác định rõ các chuẩn mực đạo đức và yêu cầu cụ thể đối với người giáo viên. Việc giáo dục đạo đức cần gắn liền với mục tiêu đào tạo và yêu cầu của xã hội. Các trường cao đẳng sư phạm miền Đông Nam Bộ cần xây dựng kế hoạch giáo dục đạo đức cụ thể và hiệu quả.

2.2. Phối hợp các lực lượng giáo dục

Việc giáo dục đạo đức nghề nghiệp cần có sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội. Các lực lượng giáo dục cần thống nhất trong việc thực hiện mục tiêu giáo dục. Nhà trường đóng vai trò chủ đạo trong việc quản lý và tổ chức giáo dục đạo đức. Gia đình và xã hội cần hỗ trợ và tạo điều kiện để sinh viên rèn luyện và phát triển đạo đức nghề nghiệp.

III. Đào tạo sư phạm và đạo đức nghề nghiệp

Đào tạo sư phạm là quá trình hình thành và phát triển nhân cách người giáo viên. Nghiên cứu này tập trung vào việc đánh giá thực trạng đào tạo và đề xuất các biện pháp cải thiện. Đạo đức nghề nghiệp là yếu tố không thể thiếu trong quá trình đào tạo giáo viên. Các trường cao đẳng sư phạm miền Đông Nam Bộ cần chú trọng vào việc giáo dục đạo đức và rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp cho sinh viên.

3.1. Thực trạng đào tạo sư phạm

Thực trạng đào tạo sư phạm tại các trường cao đẳng sư phạm miền Đông Nam Bộ cho thấy nhiều hạn chế. Chương trình đào tạo chưa chú trọng đúng mức vào việc giáo dục đạo đức nghề nghiệp. Cần có sự đổi mới toàn diện trong chương trình đào tạo và phương pháp giảng dạy. Việc rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp và đạo đức cần được đặt lên hàng đầu.

3.2. Biện pháp cải thiện đào tạo sư phạm

Các biện pháp cải thiện đào tạo sư phạm cần tập trung vào việc giáo dục đạo đức và rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp. Cần xây dựng chương trình đào tạo phù hợp với yêu cầu thực tiễn. Việc thực tập sư phạm cần được chú trọng và tổ chức hiệu quả. Các trường cao đẳng sư phạm miền Đông Nam Bộ cần tạo điều kiện để sinh viên rèn luyện và phát triển toàn diện.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ khoa học giáo dục quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên trường cao đẳng sư phạm miền đông nam bộ

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP CHO SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM 1. Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Nghiên cứu về ĐĐNN và ĐĐNN sư phạm Hoạt động nghề nghiệp là phương thức sống chủ yếu nhất của con người. Vì vậy, ĐĐNN chính là một phần quan trọng trong đạo đức xã hội.

Để sống, con người phải lao động và để lao động có kết quả tốt nhất, con người phải tuân thủ ĐĐNN. Sự phát triển kinh tế xã hội ở bất kỳ thời đại nào cũng phụ thuộc vào phương thức sản xuất và đạo đức nghề nghiệp là nhân tố thúc đẩy. Tuy nhiên để tự giác tuân thủ đạo đức nghề nghiệp trong học tập, lao động, sản xuất, trước hết con người phải có nền tảng về đạo đức xã hội nói chung, tích cực, chủ động vận dụng chuẩn mực đạo đức vào mối quan hệ nghề nghiệp, nâng cao giá trị đạo đức và việc thực thiện và tuân thủ đạo đức sẽ gia tăng lợi ích kinh tế. Năm (1986 - 1987) theo đề nghị của UNESCO đã có cuộc điều tra quốc tế về giá trị đạo đức của con người chuẩn bị bước vào thế kỉ XXI nhằm mục đích nghiên cứu các vấn đề về giá trị đạo đức và giáo dục về giá trị đạo đức.

Cuốn tài liệu “Giá trị trong hành động” của Trung tâm Canh tân và Công nghệ giáo dục thuộc tổ chức Bộ trưởng Giáo dục Đông Nam Á, xuất bản năm 1992. Tài liệu trình bày về vấn đề đưa giáo dục giá trị vào nhà trường và cộng đồng các nước Inđônêxia, Philíppin, Malaysia và Thái Lan. Tại Viện Đại học Doulas Mauson, bang Adelaid, Nam Úc, một số tác giả cho rằng: ĐĐNN là một yêu cầu không thể thiếu của bất cứ loại hình công việc nào. Mỗi loại nghề nghiệp đòi hỏi những người trong từng nghề nghiệp cần phải hội đủ các thành tố đó là: Tri thức, thái độ, kỹ năng.

Mỗi một nghề nghiệp thường có một chuẩn mực đạo đức riêng biệt. Các tác giả không nói trực tiếp vào ĐĐNN, nhưng đề cập sâu về thái độ nghề nghiệp, những phẩm chất cần thiết của người làm mỗi nghề. 9 thể chất và tinh thần, giới tính, tài sản, trình độ học vấn, thu nhập, nguồn gốc, chủng tộc, tôn giáo. - Sự riêng tư, tính bảo mật và sự công khai: Cán bộ thư viện- thông tin luôn tôn trọng sự riêng tư cá nhân và việc bảo vệ các thông tin cá nhân được trao đổi giữa các cá nhân với các cơ quan, tổ chức.

- Truy cập mở về sở hữu trí tuệ: Cán bộ thư viện- thông tin đều hướng đến mục đích tạo điều kiện cho người sử dụng được tiếp cận thông tin một cách công bằng, nhanh chóng, tiết kiệm và hiệu quả. - Sự tập trung, hội nhập của cá nhân và các kỹ năng chuyên môn: Cán bộ thư viện- thông tin nghiêm túc đảm bảo tính trung lập và lập trường không thiên vị liên quan đến vốn tài liệu, việc tiếp cận và các dịch vụ. - Mối quan hệ đồng nghiệp và mối quan hệ giữa chủ sở hữu lao động và người lao động: Cán bộ thư viện- thông tin đối xử với nhau trên cơ sở công bằng và tôn trọng lẫn nhau.[30] Quy định về ĐĐNN của Hiệp hội Tham vấn tâm lý Hoa Kỳ ACA (ACA Code of Ethics, 2005) nhằm phục vụ cho 5 mục đích chính về đạo đức nghề nghiệp. Cụ thể là: - Giúp hiệp hội (ACA) làm sáng tỏ bản chất những trách nhiệm đạo đức chung nhất phải giữ đối với những hội viên hiện tại, tương lai và cho những người thụ hưởng dịch vụ của các hội viên này.

- Giúp duy trì sứ mệnh của hiệp hội. - Chính thức hóa những nguyên tắc dùng để xác định những hành vi đạo đức và việc hành nghề một cách tốt nhất của những hội viên. - Cung cấp sự hướng dẫn về đạo đức để hỗ trợ những hội viên trong việc xây dựng một tiến trình hành động chuyên nghiệp với mục đích phục vụ tốt nhất cho những người sử dụng dịch vụ tham vấn và nâng lên mức cao nhất những giá trị của nghề tham vấn tâm lý. - Làm căn bản cho việc khiếu kiện và hướng dẫn để phản đối những hội viên của hiệp hội trong những vấn đề đạo đức.

11 thông qua hiệu qủa công việc. Do đó, ĐĐNN cần phải được thể hiện, định hướng qua hiệu quả làm việc và những đóng góp của người giáo viên. Ngày nay, ở Việt Nam, nhiều ngành nghề ban hành các nguyên tắc quy định về các tiêu chuẩn, chuẩn mực ĐĐNN. Cụ thể: Nghề y: Quan điểm y đức của Hồ Chí Minh là “Lương y phải như từ mẫu”.

Ngày 06/11/1996, Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành “Quy định về y đức”, số 2088/BYT-QĐ. Ngày 14/12/2007, Bộ Nội vụ có CV số 3613/BNV-TCPCP hướng dẫn ban hành Quy tắc ĐĐNN cho các tổ chức xã hội nghề nghiệp trong cả nước. ĐĐNN của nghề làm báo được quy định thành 9 điều về đạo đức báo chí Việt Nam, được Đại hội VIII Hội Nhà báo Việt Nam thông qua, là những nguyên tắc, những chuẩn mực để điều chỉnh hành vi của nhà báo trong hoạt động thực tiễn nghề nghiệp. Cụ thể quy gọn thành 3 nhóm vấn đề: Người làm báo trung thành với Đảng, chế độ, với lý tưởng chiến đấu mà Đảng, Bác Hồ, nhân dân ta đã lựa chọn; người làm báo cách mạng phấn đấu hết lòng vì nhân dân: đó là hành nghề trung thực, trung thực trong thông tin là bản chất của một nền báo chí chân chính; nhà báo tuân thủ pháp luật, nêu cao trách nhiệm xã hội, nghĩa vụ cộng đồng, không lợi dụng nghề nghiệp để vụ lợi, làm điều phi pháp.

Báo chí tôn vinh bản sắc văn hóa dân tộc, không làm tổn hại thuần phong mỹ tục của dân tộc Việt Nam. Đạo đức nhà báo, đòi hỏi phẩm chất trong sáng, lối sống lành mạnh, đạo đức sinh hoạt trong sáng, có tinh thần giúp đỡ, hỗ trợ đồng nghiệp. Đạo đức trong kinh doanh: Đạo đức trong kinh doanh ngày nay không chỉ là câu khẩu hiệu để lấy lòng người tiêu dùng “Khách hàng là thượng đế” hay “Vui lòng khách đến vừa lòng khách đi”. Chúng cũng là công cụ để tối đa hoá lợi nhuận, để củng cố thương hiệu, làm thương hiệu.

Giáo sư tiến sĩ Koenraad Tommissen, người đã có kinh nghiệm trên 30 năm điều hành, giảng dạy và tư vấn doanh nghiệp cho biết: “Đạo đức trong kinh doanh là vấn đề nền tảng của mọi giá trị, là phần không thể tách rời của mọi hoạt động, là kim chỉ nam, là yếu tố cơ bản tạo ra danh tiếng cho một công ty. Đạo đức là nền tảng của sự thành công và phát 13 Điều 7. Ứng xử với tổ chức, cá nhân nước ngoài Điều 8. Ứng xử nơi công cộng Điều 9.

Ứng xử với nhân dân nơi cư trú Điều 10. Ứng xử trong gia đình [75] Có thể thấy rằng: Mọi nghề nghiệp trong xã hội đều cần thiết có những quy định về đạo đức nghề nghiệp của riêng mình. Đó là những chuẩn mực yêu cầu, là thước đo về phẩm chất đạo đức nghề nghiệp để người hành nghề rèn luyện và phấn đấu. ĐĐNN sư phạm được coi trọng ở mọi quốc gia.

Tại bang Victoria- Úc với nghề sư phạm được xây dựng thành các quy định về chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp của nghề dạy học bao gồm: Sự tôn trọng người khác, lòng nhân hậu, sự công minh và công bằng, tính lương thiện và ngay thẳng. Các chuẩn mực ĐĐNN cũng là cơ sở để cụ thể hóa các hành vi đạo đức mà giáo viên phải thực hiện. Đồng thời là căn cứ để giáo viên soi xét lại mình để có sự điều chỉnh và hoàn thiện ĐĐNN cho bản thân. ĐĐNN sư phạm ở Việt nam có truyền thống lâu đời và rất được coi trọng.

Sinh thời, Hồ Chí Minh luôn coi đạo đức là yếu tố nền tảng của người cách mạng; nhà giáo cũng là những cán bộ cách mạng, vì thế phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng mới hoàn thành nhiệm vụ một cách vẻ vang. Là người thầy của nền giáo dục hiện đại Việt Nam, Hồ Chí Minh thường đánh giá cao công lao của các thầy, cô giáo. Người nói: “Nếu không có thầy giáo dạy dỗ cho con em nhân dân, thì làm sao mà xây dựng chủ nghĩa xã hội được? Vì vậy nghề thầy giáo rất là quan trọng, rất là vẻ vang…”. Bác thường nhắc nhở các thầy cô giáo: “Dạy cũng như học phải biết chú trọng cả tài lẫn đức.

Đức là đạo đức cách mạng. Đó là cái gốc, rất là quan trọng. Nếu không có đạo đức cách mạng thì có tài cũng vô dụng. Đạo đức cách mạng là triệt để trung thành với cách mạng, một lòng một dạ phục vụ nhân dân”.

329] Đặc biệt đề cao vai trò của đạo đức, coi đạo đức là linh hồn của người thầy giáo, vì thế Người căn dặn: “Muốn cho học sinh có đức thì giáo viên phải có đức… Cho nên thầy giáo, cô giáo phải gương mẫu…” [72, tr.492] phải thường 15 Vì thế, theo tác giả, để nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên một cách toàn diện thì phải làm cho khoa học giáo dục trở lên hấp dẫn đối với người học, mở rộng phạm vi trách nhiệm đào tạo của các cơ sở đào tạo giáo viên, rèn luyện một cách toàn diện cả về phẩm chất đạo đức và năng lực sư phạm, đa dạng hoá các hình thức giáo dục, giữ gìn và phát huy truyền thống “tôn sư trọng đạo”, mặt khác cần cải cách toàn diện chế độ chính sách đối với nghề dạy học và người giáo viên…[93, tr.114- 121] - Tác giả Thái Duy Tuyên trong một công trình nghiên cứu giáo dục đưa ra khẳng định hết sức quan trọng: “Người thầy giáo quyết định chất lượng giáo dục, thậm chí không có thầy thì không có lớp, không có giáo dục”; [85, tr.96] vì thế người thầy giáo cần phải có “đạo đức nghề nghiệp tốt”. Những phẩm chất cần thiết là phải yêu quý học sinh, hết lòng vì sự nghiệp giáo dục của nhân dân, nghiêm khắc với bản thân, luôn luôn gương mẫu trong công việc và đời sống cá nhân.112] Đó là những chuẩn mực đạo đức rất cơ bản và hết sức cần thiết đối với nhà giáo; tuy nhiên, công trình nghiên cứu chưa xác định những biện pháp giáo dục, rèn luyện các phẩm chất trên. - Tác giả Nguyễn Kế Hào trong cuốn “Giáo trình tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm”[37] cho rằng: Trong phẩm chất nhân cách của người thầy giáo có thêm một thành tố nữa là: “đạo đức lối sống”. Từ đó đưa ra khái niệm “đạo đức nghề nghiệp”.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên cao đẳng sư phạm miền Đông Nam Bộ là một tài liệu chuyên sâu tập trung vào việc nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên sư phạm tại khu vực Đông Nam Bộ. Tài liệu này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xây dựng và quản lý các chương trình đào tạo đạo đức nghề nghiệp, giúp sinh viên phát triển kỹ năng chuyên môn và phẩm chất đạo đức cần thiết để trở thành những nhà giáo mẫu mực. Đồng thời, nó cung cấp các giải pháp cụ thể để cải thiện hiệu quả quản lý giáo dục trong bối cảnh hiện đại.

Để mở rộng kiến thức về quản lý giáo dục, bạn có thể tham khảo thêm Luận án tiến sĩ quản lý phát triển đội ngũ giảng viên các trường cao đẳng y tế trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay, một tài liệu chuyên sâu về phát triển nguồn nhân lực trong giáo dục. Ngoài ra, Luận án tiến sĩ quản lý đổi mới phương pháp dạy học ở trường trung học phổ thông dựa theo lý thuyết quản lý sự thay đổi cung cấp góc nhìn mới về cải tiến phương pháp giảng dạy. Cuối cùng, Luận án tiến sĩ khoa học giáo dục quản lý quá trình dạy học của trường THPT tỉnh Tuyên Quang trong bối cảnh phân cấp QLGD sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về quản lý dạy học trong bối cảnh hiện đại.

Những tài liệu này không chỉ bổ sung kiến thức mà còn mở ra cơ hội để bạn khám phá sâu hơn về các khía cạnh khác nhau của quản lý giáo dục.