Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh theo CTGDPT 2018 ở trường Trung học cơ sở Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh theo định hướng CTGDPT 2018 ở các trường trung học cơ sở huyện Tủa Chùa tỉnh Điện Biên. Chương 3: Các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh theo CTGDPT 2018 ở các trường trung học cơ sở huyện Tủa Chùa tỉnh Điện Biên 5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH THEO CHƢƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG 2018 Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Nghiên cứu về giáo dục đạo đức cho học sinh Mỗi cộng đồng trên thế giới đều có những qui tắc, chuẩn mực đạo đức riêng.
Do có sự khác biệt về giá trị đạo đức giữa các cộng đồng trên thế giới nên vấn đề giáo dục đạo đức cho học sinh trong trường học ở các cộng đồng khác nhau cũng được nhìn nhận, đánh giá dưới nhiều quan điểm khác nhau. Tác giả Wolfgang Althof và Marvin W. Berkowitz trong bài viết “Moral education and character education: their relationship and roles in citizenship education” (Giáo dục đạo đức và giáo dục nhân cách: mối quan hệ và vai trò của chúng trong giáo dục công dân) [63]. Đã nhấn mạnh rằng: Bất kỳ xã hội dân chủ nào cũng phải quan tâm đến việc xã hội hóa các công dân của mình.
Điều này bắt đầu từ thời thơ ấu và trường học đóng vai trò quan trọng trong quá trình này. Mối quan hệ và vai trò của giáo dục nhân cách (giáo dục nhân cách, giáo dục đạo đức) và giáo dục công dân được tác giả phân tích ở nhiều chiều cạnh khác nhau. Thông qua việc khám phá từng lĩnh vực và những điểm giống và khác nhau của chúng, tác giả đã kết luận về vai trò của trường học trong việc bồi dưỡng những công dân có đạo đức trong các xã hội dân chủ.[63] Tác giả Tjipto Sumadi và Asep Rudi Casmana nghiên cứu việc thực hiện giáo dục ở cấp trung học cơ sở ở Indonesia. Giáo dục đạo đức được coi là một khía cạnh thiết yếu của mỗi cấp học ở Indonesia, dạy cho học sinh các giá trị của cuộc sống để có thế áp dụng trong cuộc sống hàng ngày.
Giáo dục đạo đức còn được thực hiện bằng cách lồng ghép vào nội dung của nhà trường. Các tác giả tập trung vào làm rõ quan niệm về giáo dục đạo đức học tập và giáo dục đạo đức học sinh. Bằng các phương pháp phỏng vấn, quan sát, cũng đã kết luận giáo dục đạo đức được giảng dạy trong các trường trung học cơ sở tuân theo các chính sách của Chính phủ đã vạch ra. Trong khi đó, giáo viên đóng vai trò là người giám hộ trong trường học, nhân cách của người giáo viên như là một tấm gương trong giáo dục đạo đức.
[55] 6 Bart Engelen, và các cộng sự sử dụng các câu chuyện kể về những cá nhân gương mẫu về đạo đức để “thúc đẩy” học sinh. Tác giả đã nhấn mạnh mục đích quan trọng của giáo dục đạo đức là làm cho quan điểm đạo đức của đối tượng (người được giáo dục) có cấu trúc hơn, nổi bật hơn và do đó dễ định hướng hơn. Từ đó định hướng cách thức sử dụng tấm gương trong giáo dục đạo đức cho đối tượng giáo dục. Tác giả Dawson (1994) [58] đã đặc biệt nhấn mạnh ảnh hưởng của môi trường giáo dục đối với sự phát triển đạo đức của thế hệ trẻ.
Những môi trường giáo dục mà trong đó thúc đẩy sự phát triển đạo đức của học sinh phải bao gồm một sự kết hợp giữa hành động đạo đức và sự phản ánh, tức là trải nghiệm (làm và suy ngẫm). cho rằng, giáo dục đạo đức trong trường học có hai nhiệm vụ quan trọng: Thứ nhất là Xã hội hóa đạo đức (Moral Socialization) - xã hội hóa trẻ em trong những hành vi đạo đức, nuôi dưỡng ở thế hệ trẻ những đức tính và giá trị để trở thành những người tốt; Thứ hai là cung cấp cho học sinh những thông tin, tài nguyên trí tuệ để giúp họ đưa ra các phán xét có trách nhiệm về những vấn đề khó khăn có tầm quan trọng đạo đức. Để hỗ trợ cho giáo viên trong giảng dạy nhằm thực hiện được cả hai nhiệm vụ nêu trên, Nord & Haynes đã đưa ra yêu cầu: Trường học phải giúp phát triển những con người tốt (trung thực, có trách nhiệm và tôn trọng nhau); Yêu nước; Nền giáo dục dân chủ (nuôi dưỡng sự hiểu biết và tự phán xét về những xung đột); Hình thức giáo dục đạo đức phù hợp với sự trưởng thành của học sinh; Sự lựa chọn những vấn đề đạo đức cấp bách của giáo viên. Tuy chưa đưa ra được một lí thuyết cụ thể, nhưng phác thảo của Nord & Haynes là có đóng góp hết sức quan trọng đối với một nền giáo dục đạo đức theo hướng tiến bộ.
Tác giả Devine (2006) quan niệm: đạo đức luôn thay đổi theo sự phát triển của xã hội, nó ảnh hưởng đến nội dung đạo đức, quá trình đạo đức và cuối cùng là giáo dục đạo đức như một vòng xoắn không bao giờ kết thúc cùng với sự thay đổi của cuộc sống. Những giá trị đạo đức vẫn luôn thay đổi cùng với tiến bộ đời sống xã hội, những lí tưởng cũ chỉ có thể tồn tại cho đến nay trước khi con người gặp phải một tình thế mới. 7 Đồng thời, Devine cho rằng, giáo dục đạo đức phải là sự hiểu biết các qui tắc đạo đức và biết về những gì mình sẽ làm khi đối diện với tình thế của cuộc sống, họ có thể cần sự giúp đỡ nhưng không bị trói buộc. Sự giúp đỡ có thể đến từ cha mẹ, giáo viên nhưng cuối cùng học sinh phải trở thành “nhà giáo dục đạo đức” của chính mình.
Ở Việt Nam, trong những năm vừa qua, công tác giáo dục đạo đức trong các trường phổ thông đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà giáo dục và quản lý giáo dục. Do đó nhiều công trình nghiên cứu đã được công bố, đề cập đến những khía cạnh khác nhau, với nội dung và cách tiếp cận phong phú, đa dạng về giáo dục đạo đức và quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh, tiêu biểu như: Tác giả Phạm Khắc Chương, Hà Nhật Thăng đã đề cập đến các vấn đề giáo dục đạo đức nhằm giúp giáo viên có một cơ sở vững chắc để dạy học cho học sinh. Các tác giả đã bàn nhiều về các vấn đề giáo dục đạo đức như phạm trù giáo dục trong đạo đức gia đình, đạo đức trong tình bạn, tình yêu. Từ đó các tác giả đưa ra những nhận định và đề xuất một số phương pháp giảng dạy và giáo dục đạo đức cho học sinh trong nhà trường phổ thông [14].
Tác giả Phạm Minh Hạc xuất phát từ đặc trưng tâm lý học để khảo sát hành vi và hoạt động, nghiên cứu đạo đức trong cấu trúc của nhân cách, thực hiện Giáo dục đạo đức trong quá trình phát triển nhân cách, xem đó như mục tiêu quan trọng nhất của việc thực hiện chất lượng giáo dục [23]. Tác giả Trần Quang Khánh đề cập tới “Một số hình thức giáo dục đạo đức cho học sinh THCS hiện nay”. Tác giả đã chỉ rõ 4 hình thức giáo dục đạo đức như sau: (1) Giáo dục đạo đức thông qua dạy học môn Giáo dục công dân và lồng ghép vào các môn học khác. Ở hình thức này, tác giả đã chỉ rõ ưu thế của môn học Giáo dục công dân trong giáo dục đạo đức cho học sinh THCS.
Ngoài ra còn chỉ rõ khả năng giáo dục đạo đức của các môn học có nội dung liên quan đến giáo dục đạo đức. (2) Giáo dục đạo đức thông qua việc tổ chức các hoạt động phong trào cho học sinh tham gia. Tác giả đã chỉ rõ các nội dung giáo dục đạo đức được thực hiện khi lôi cuốn học sinh vào các hoạt động phong trào như: giáo dục yêu tổ quốc, yêu đồng bào; giáo dục tinh thần đoàn kết; ý thức giữ gìn vệ sinh; khiêm tốn, thật thà, dũng cảm. (3) Giáo dục đạo 8 đức thông qua nêu gương của cán bộ, giáo viên nhân viên trong nhà trường.
Khẳng định mỗi nhà giáo luôn là tấm gương đạo đức trong công tác giáo dục học sinh. (4) Giáo dục đạo đức bằng việc chủ động kết hợp với gia đình và xã hội. Chỉ rõ vai trò của từng lực lượng trong công tác giáo dục đạo đức cho học sinh và việc phối hợp các lực lượng trên. [33] Tác giả Phạm Minh Ái, Nguyễn Thị Thúy Hương đề cập tới “Nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức sinh thái cho thế hệ trẻ của nước ta hiện nay”.
Trong bài viết này, các tác giả chỉ ra những định hướng nâng cao hiệu quả của giáo dục đạo đức sinh thái cho học sinh hiện nay bao gồm: 1/ Giáo dục thế hệ trẻ nhận thức một cách sâu sắc rằng con người là một thực thể không thể tách rời của giới tự nhiên và là một khâu quan trọng nhất trong hệ thống Con người - Tự nhiên - Xã hội. 2/ Cần “tiêu chí hóa” và phối hợp lồng ghép giáo dục bảo vệ môi trường trong các phong trào hoạt động, các cuộc vận động của Đoàn thanh niên gắn với xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư, nhằm gắn công tác bảo vệ môi trường với phát triển bền vững, góp phần động viên, tôn vinh, nhân rộng các mô hình, điển hình bảo vệ môi trường. [1] Tác giả Nguyễn Thị Thi nghiên cứu Thực trạng và giải pháp giáo dục đạo đức cho học sinh THCS trên địa bàn thành phố Hà Nội. Tác giả đã khảo sát 400 học sinh khối lớp 6 đến lớp 9 của 5 trường THCS trên địa bàn thành phố Hà Nội.
Khảo sát đã đánh giá được: Nhận thức của học sinh về những tiêu chuẩn, yêu cầu cần thiết đối với trẻ em. Nhận thức về các phẩm chất đạo đức của học sinh. Thái độ của học sinh về các quan niệm đạo đức. Hành vi đạo đức của học sinh.
Từ đó tác giả đề xuất 4 giải pháp cơ bản sau: 1/ Nâng cao nhận thức đối với CBQL, GV về vai trò của giáo dục đạo đức trong trường THCS. 2/ Phối hợp các lực lượng gia đình, nhà trường, xã hội trong giáo dục đạo đức cho học sinh. 3/ Thiết lập môi trường sống, môi trường giao tiếp nhằm hình thành những thói quen, hành vi tốt ở học sinh. 4/ GV, CBQL phải gương mẫu, hiểu tâm sinh lý lứa tuổi học sinh và tâm huyêt trong công tác giáo dục đạo đức cho học sinh THCS.