chương I của Luật giáo dục nêu rõ: “ Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức tri thức, sức khoẻ thẩm mỹ và nghề nghiệp. Trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ tổ quốc”. Ở nước ta hiện nay, vấn đề GDĐĐ đang là vấn đề nóng bỏng và đang trở thành một trong những mối quan tâm hàng đầu của các nhà sư phạm nói chung và các nhà QLGD nói riêng.
Trên thực tế, đã có nhiều nghiên cứu về vấn đề đạo đức và GDĐĐ, các nghiên cứu thường đi sâu vào việc xác định các nội dung đạo đức, các định hướng về giá trị đạo đức, các biện pháp GDĐĐ học sinh và QLGD đạo đức. Phạm Minh Hạc, trong nhiều nghiên cứu chuyên luận của ông về con người Việt Nam đã nêu lên các định hướng giá trị đạo đức con người Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp và bàn về thực trạng cũng như các giải pháp ở tầm vĩ mô về việc 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com GD&ĐT con người Việt Nam. Trên cơ sở phân tích khoa học về thực trạng chất lượng GDĐĐ cho HS, sinh viên hiện nay, Phạm Minh Hạc đã nêu lên sáu giải pháp GDĐĐ cho con người Việt Nam thời kỳ CNH - HĐH đất nước:''Tiếp tục đổi mới nội dung, hình thức GDĐĐ trong các trường học; củng cố ý tưởng giáo dục gia đình và cộng đồng, kết hợp chặt chẽ với giáo dục nhà trường trong việc giáo dục đạo đức cho mọi người; kết hợp chặt chẽ GDĐĐ với việc thực hiện nghiêm chỉnh luật pháp của các cơ quan thi hành pháp luật. Tổ chức thống nhất các phong trào thi đua yêu nước và các phong trào rèn luyện đạo đức, lối sống cho toàn dân trước hết cho cán bộ Đảng viên, cho thầy trò các trường học.
Xây dựng một cơ chế tổ chức và cha đạo thống nhất toàn xã hội về GDĐĐ; nâng cao nhận thức cho mọi người '' [12, 171 - 176]. Cùng mục đích nghiên cứu với Phạm Minh Hạc về đạo đức và GDĐĐ, có nhiều tác giả đã nghiên cứu vấn đề trên dưới nhiều góc độ khác nhau: - Tác giả Đặng Vũ Hoạt đã đi sâu nghiên cứu vai trò của giáo viên chủ nhiệm trong quá trình GDĐĐ cho sinh viên; - Tác giả Trần Thế Hùng lại tập trung vào việc tăng cường QL các hoạt động GDĐĐ thông qua các hoạt động dạy học, hoạt động GDNGLL và hoạt động Đoàn, Đội với luận văn: ''Những biện pháp đổi mới quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trường trung học cơ sở Quận 10 Thành phố Hồ Chí Minh''; - Tác giả Phạm Trung Thanh từ nghiên cứu thực trạng đạo đức của sinh viên đã đưa ra 10 kiến nghị cụ thể nhằm nâng cao chất lượng GDĐĐ cho sinh viên hiện nay cũng như yêu cầu của các nhà giáo, các nhà QLGD phải nâng cao tinh thần trách nhiệm, nhiệt tình trong việc tổ chức đa dạng các hoạt động để thu hút sinh viên vào việc giáo dục rèn luyện đạo đức. Tác giả đã lý giải cho mỗi ý kiến của mình một cách thuyết phục. Bên cạnh đó, còn có một số luận văn cũng nghiên cứu về vấn đề đạo đức và GDĐĐ: - Luận văn ''Một số giải pháp tổ chức quản lý nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức học sinh trường trung học công nghiệp II - Bộ Công nghiệp trong giai đoạn mới'' của Nguyễn Thị Vây - 2000.
- Luận văn ''Một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com sinh sinh viên trường cao đẳng sư phạm kỹ thuật Nam Định'' của Hoàng Thị Kim Liên - 2005. - Luận văn ''Tổ chức hoạt động, giáo dục đạo đức cho sinh viên trường ĐHSP Huế trong tình hình hiện nay'' của Nguyễn Văn Phước - 2003. - Luận văn ''Biện pháp quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh ở trường Trung cấp nghề Bắc Ninh '' của Trịnh Thị Hiền - 2007 Về cơ bản, những luận văn trên là những công trình nghiên cứu khoa học có giá trị. Song, do giới hạn và phạm vi nghiên cứu của mỗi một đề tài cho nên đối với các mô hình nhà trường có những đặc điểm và điều kiện khác nhau thì những luận văn trên chỉ có giá trị dùng để tham khảo.
Chính vì vậy, việc nghiên cứu cơ sở 1ý luận về GDĐĐ và quản lý GDĐĐ cho HS ở trường THPT; thực trạng quản lý hoạt động GDĐĐ cho HS ở trường THPT Thanh Nưa để tìm ra những biện pháp quản lý phù hợp, có tính khả thi nhằm nâng cao kết quả GDĐĐ cho HS ở trường THPT Thanh Nưa trong giai đoạn hiện nay là rất cần thiết, nhất là việc nghiên cứu các biện pháp quản lý hoạt động GDĐĐ học sinh thông qua công tác Đoàn thanh niên nhằm nâng cao chất lượng GDĐĐ cho HS ở các trường THPT là vấn đề hầu như còn chưa được đề cập đến. Vì vậy việc GDĐĐ cho HS muốn đạt được kết quả tốt phải được tiến hành bằng nhiều biện pháp. Đồng thời đòi hỏi sự quan tâm của cộng đồng trách nhiệm của gia đình, nhà trường và của toàn xã hội. Cơ sở lý luận về việc quản lý công tác giáo dục đạo đức học sinh ở trƣờng trung học phổ thông 1.
Một số khái niệm cơ bản 1. khái niệm “Quản lý” Đã có rất nhiều người định nghĩa về quản lý. Trong Luận văn này “Quản lý” được hiểu theo từ điển Bách khoa Việt Nam [31]: “Quản lý là chức năng hoạt động của hệ thống có tổ chức thuộc các giới hạn khác nhau (xã hội, sinh học, kỹ thuật) bảo đảm giữ gìn một cơ cấu ổn định nhất định, duy trì sự hoạt động tối ưu và bảo đảm thực hiện những chương trình và mục tiêu của hệ thống đó” và theo tác giả Trần Kiểm: “Quản lý là những tác động của 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất” [19] Mọi hoạt động quản lý được thực hiện thông qua các chức năng quản lý nhằm thực hiện mục tiêu quản lý. * Các chức năng cơ bản của quản lý Chức năng quản lý là tổ hợp các hoạt động tất yếu của chủ thể quản lý, nhằm thực hiện các mục tiêu quản lý.
Hoạt động quản lý có 4 chức năng: Kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra (Sơ đồ 1. - Chức năng kế hoạch hóa: là việc xác định các mục tiêu của tổ chức, đồng thời xác định các con đường, các cách thức và biện pháp, cùng các nguồn lực cần đáp ứng để đạt được các mục tiêu. Thực hiện chức năng kế hoạch hóa nhằm xây dựng các kế hoạch hoạt động của tổ chức và của cá nhân người quản lý. - Chức năng tổ chức: Nhằm hình thành cơ cấu tổ chức quản lý cùng các mối quan hệ giữa chúng.
Đó là quá trình phân công, phân bố sắp xếp và phối hợp các nguồn lực để thực hiện thành công các đạt được các mục tiêu của kế hoạch đã đề ra. - Chức năng chỉ đạo: Chỉ đạo chính là quá trình thực hiện các tác động điều khiển, dẫn dắt, gây ảnh hưởng đến các thành viên, các bộ phận trong tổ chức để hướng mọi công việc đạt đến mục tiêu chung người quản lý có trình độ năng lực tổ chức, tập hợp, liên kết, động viên cán bộ thuộc quyền thực hiện và hoàn thành tốt nhiệm vụ được tổ chức phân công. - Chức năng kiểm tra: Phát hiện, đánh giá kết quả hoạt động, phát hiện các lệch lạc, sai sót nảy sinh trong quá trình thực hiện, từ đó tìm hiểu các nguyên nhân và đề ra các biện pháp khắc phục, sửa chữa, đảm bảo cho kế hoạch đề ra được thực hiện thành công. Cần có kế hoạch kiểm tra rõ ràng, sắp xếp tổ chức hợp lý, xác định rõ trách nhiệm của từng cá nhân, từng bộ phận.
thì kiểm tra mới đạt kết quả mong muốn. Ngoài ra, trong điều kiện xã hội thông tin ngày nay vai trò của thông tin trong quản lý cũng được coi như một chức năng của quản lý. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Kế hoạch Kiểm tra Thông tin Tổ chức Chỉ đạo Sơ đồ 1. Các chức năng quản lý 1.
Khái niệm “Quản lý giáo dục” Theo nhà khoa học Giáo sư Phạm Minh Hạc [4]: “Quản lý giáo dục là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm cho hệ thống vận hành theo đường lối, nguyên lý giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục với thế hệ trẻ và với từng học sinh”. Vậy, quản lý giáo dục được hiểu là sự tác động của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong lĩnh vực giáo dục, nói một cách rõ ràng đầy đủ hơn, quản lý là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch hợp quy luật của chủ thể quản lý trong hệ thống giáo dục quốc dân, các cơ sở giáo dục nhằm thực hiện mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài. Quản lý giáo dục là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng giáo dục nhằm đẩy mạnh công tác giáo dục theo yêu cầu phát triển của xã hội. Quản lý giáo dục là hoạt động có ý thức của con người nhằm theo đuổi những mục đích của mình.
Mục đích của giáo dục cũng chính là mục đích của quản lý (tuy nó không phải là mục đích duy nhất của mục đích quản lý giáo dục). Đây là mục đích có tính khách quan. Nhà quản lý, cùng với đông đảo đội ngũ giáo viên, học sinh, các lực lượng xã hội. bằng hành động của mình hiện thực hoá mục đích đó.
10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.