CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÍ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM, HƯỚNG NGHIỆP TẠI CÁC TRƯỜNG THCS 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Đạo đức là một hiện tượng xã hội - một hình thái ý thức đặc biệt, giáo dục đạo đức cho các thế hệ học sinh luôn là mối quan tâm của cả xã hội và đặc biệt các nhà giáo dục, từ xã hội cổ đại tới xã hội hiện đại ngày nay. Vấn đề đạo đức, giáo dục đạo đức và quản lí hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh viên ở Việt Nam đã được nhiều nhà khoa học, nhà giáo dục quan tâm nghiên cứu. Chúng ta cũng biết rằng đạo đức xuất hiện từ buổi bình minh của lịch sử loài người, nó là một hình thái ý thức xã hội, nó được phát triển song hành cùng với xã hội đồng thời nó giúp xã hội loài người tiến cao hơn.
Chính vì vậy đã có nhiều công trình nghiên cứu về giáo dục đạo đức của nhiều tác giả trong và ngoài nước từ nhiều góc độ khác nhau. Đặc biệt, Viện khoa học giáo dục Việt Nam, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã có nhiều đóng góp quan trọng vào lĩnh vực này. Nghiên cứu thế giới Ở nước ngoài, nhà triết học, bác học Hy Lạp cổ đại Aritstốt (384-322 TCN) khẳng định rằng, phải giáo dục con người ta về đạo đức, phát triển ý chí, giảng dạy văn hóa để phát triển lý trí, giảng dạy thể dục thể thao để phát triển thể lực. Ông xem đạo đức là cái thiện của cá nhân, còn chính trị là cái thiện của xã hội.
Ông cho rằng không phải hy vọng vào Thượng đế áp đặt để có người công dân hoàn thiện về đạo đức, mà việc phát hiện nhu cầu trên trái đất, phát triển những quyền lợi chính trị, khoa học mới tạo nên được con người hoàn thiện trong quan hệ đạo đức. Ở phương Đông thời cổ đại, Khổng Tử (551-479 TCN) nhà tư tưởng, nhà chính trị, nhà giáo dục nổi tiếng, đã đặc biệt quan tâm tới vấn đề đạo đức và giáo dục đạo đức cho con người. Tư tưởng về đạo đức, giáo dục đạo đức 9 của ông thể hiện rõ trong các tác phẩm: “Dịch, Thi, Thư, Lễ, Nhạc Xuân Thu”. Ông xây dựng học thuyết “Nhân - Lễ - Chính danh”, trong đó, “Nhân” - Lòng thương người - là yếu tố hạt nhân, là yếu tố cơ bản nhất của con người.
Đứng trên lập trường coi trọng GDĐĐ, ông có câu nổi tiếng truyền lại đến ngày nay “Tiên học lễ, hậu học văn”. Hoạt động trải nghiệm được biết đến với tư cách là một quan điểm giáo dục do David A. Năm 1970, ông cùng Rron Fry phát triển lý thuyết trải nghiệm và năm 1984, ông xuất bản mô hình học tập gây nhiều sự chú ý cũng như cảm hứng cho nhiều nhà nghiên cứu. Kế thừa những ý tưởng cơ bản, trong tài liệu David A.Kolb đã hoàn thiện những lý thuyết về học tập trải nghiệm với những đặc điểm nổi bật: Thứ nhất: Học tập được tiếp nhận tốt nhất trong quá trình chứ không phải là kết quả.
Thứ hai: Học tập là một quá trình liên tục được khởi nguồn từ kinh nghiệm. Thứ ba: Quá trình học tập đòi hỏi giải pháp cho những xung đột về sự thích nghi của các phương thức đối lập biện chứng về thế giới. Thứ tư: Học tập bao gồm các tương tác giữa con người với môi trường. Thứ năm: Học tập là quá trình tạo ra tri thức, là kết quả của các giao dịch giữa các kiến thức xã hội và kiến thức cá nhân.
Nghiên cứu trong nước Tác giả Bùi Ngọc Diệp và tác giả Phó Đức Hòa cho rằng: Hoạt động trải nghiệm là các hoạt động giáo dục thực tiễn được tiến hành song song với hoạt động dạy học trong nhà trường phổ thông. Hoạt động dạy học trải nghiệm là một bộ phận của quá trình giáo dục, được tổ chức ngoài giờ học các môn văn hóa ở trên lớp và có mối quan hệ bổ sung, hỗ trợ cho hoạt động dạy học [12, tr. Theo tác giả Nguyễn Thị Liên: Hoạt động trải nghiệm là hoạt động giáo dục trong đó dưới sự hướng dẫn và tổ chức của nhà giáo, từng cá nhân học sinh được trực tiếp hoạt động thực tiễn trong nhà trường hoặc trong xã 10 hội, qua đó phát triển tình cảm, đạo đức, phẩm chất, nhân cách, các năng lực và tích lũy kinh nghiệm riêng cũng như phát huy tiềm năng sáng tạo của cá nhân [29, tr. Trong nhà trường hoạt động trải nghiệm cần được hiểu là hoạt động có động cơ, có đối tượng để chiếm lĩnh, được tổ chức bằng các việc làm cụ thể của học sinh, được thực hiện trong thực tế, được định hướng, hướng dẫn của nhà trường.
Người học có được kiến thức, kỹ năng, tình cảm và ý trí nhất định qua trải nghiệm thực tiễn. Giáo dục đạo đức học sinh thông qua hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp là sự kết hợp hoàn hảo, đem lại hiệu quả cao trong công tác giáo dục đạo đức tại các trường THCS. Tuy vậy, các tác giả chưa thực sự quan tâm nhiều đến hoạt động này. Vấn đề quản lí giáo dục đạo đức học sinh thông qua hoạt động trải nghiệm tại các trường THCS ít được quan tâm, đặc biệt hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp mới chỉ được mô tả cụ thể trong chương trình giáo dục phổ thông năm 2018 và được cụ thể hóa trong sách hướng dẫn tổ chức hoạt động trải nghiệm của đồng tác giả Bùi Ngọc Diệp và tác giả Phó Đức Hòa.
Như vậy, tách riêng hai vấn đề: quản lí giáo dục đạo đức cho học sinh và quản lí tổ chức hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp thì đã có một số công trình nghiên cứu. Các công trình nghiên cứu chủ yếu tập trung vào việc nghiên cứu các cơ sở lý luận, các phương thức hoạt động và đưa ra các giải pháp mang tính tổng thể. Khi chọn quản lí giáo dục đạo đức cho học sinh thông qua hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp tại các trường THCS cho việc giải quyết vấn đề giáo dục đạo đức học sinh thì đó là vấn đề chưa được quan tâm nhiều. Trong những năm gần đây, khi xu thế toàn cầu hoá, hội nhập với thế giới, mở ra cho nước ta những thời cơ, vận hội mới.
Nền kinh tế đã có những bước phát triển vượt bậc, đời sống nhân dân được nâng lên. Công tác giáo dục tiếp tục được Đảng và Nhà nước quan tâm chăm lo. Đảng đã có chủ 11 trương: “Tăng cường giáo dục công dân, giáo dục tư tưởng, đạo đức, lòng yêu nước, chủ nghĩa Mác - Lê Nin, đưa việc giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh vào nhà trường phù hợp với từng lứa tuổi và bậc học. Bởi vậy, tu dưỡng và rèn luyện bản thân để trở thành người vừa có đức vừa có tài là hết sức quan trọng đối với mỗi con người, là nhiệm vụ hàng đầu của học sinh.
Hoạt động trải nghiệm giúp học sinh củng cố thói quen tích cực, nền nếp trong học tập và sinh hoạt, hành vi giao tiếp ứng xử có văn hóa và tập trung hơn vào phát triển trách nhiệm cá nhân. Giáo dục đạo đức học sinh thông qua hoạt động trải nghiệm là trách nhiệm của toàn xã hội, trong đó giáo dục ở nhà trường đóng vai trò định hướng. Giáo dục đạo đức học sinh thông qua hoạt động trải nghiệm là một bộ phận của quá trình giáo dục tổng thể nên cần đảm bảo chặt chẽ quy trình quản lí giáo dục. Mỗi hoạt động có chức năng và vai trò khác nhau nhưng có mối quan hệ chặt chẽ, đan xen, bổ sung cho nhau; nếu thực hiện tốt chức năng này sẽ tạo tiền đề vững chắc cho các chức năng tiếp theo.
Thực tế, cả nước nói chung và huyện Cẩm Giàng nói riêng công tác quản lí giáo dục đạo đức cho học sinh thông qua hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp tại các trường THCS trên địa bàn huyện Cẩm Giàng chưa được quan tâm, đầu tư thích đáng. Việc tổ chức thực hiện các hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh thông qua hoạt động trải nghiệm còn nhiều hạn chế. Một số phụ huynh và học sinh chưa có nhận thức đúng đắn về hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp. Các khái niệm cơ bản của đề tài 1.
Quản lí, quản lí giáo dục 1. Khái niệm quản lí Thuật ngữ “quản lí” (Tiếng Việt gốc Hán) [38] bao gồm hai quá trình tích hợp vào nhau. Quá trình “quản” gồm sự coi sóc, giữ gìn, duy trì ở trạng thái “ổn định”. Quá trình “lí” bao gồm sự sửa sang, sắp xếp, đổi mới, đưa hệ thống vào thế “phát triển”.
Quản lí là một công việc gắn liền với cuộc sống, với hoạt động của con 12 người, vì thế nó rất đa dạng và phức tạp. Nhận thức của con người về quản lí vì thế cũng rất phong phú, các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau về khái niệm quản lí. Theo tác giả Trần Kiểm: “Quản lí là nhằm phù hợp nỗ lực của nhiều người, sao cho mục tiêu của từng cá nhân biến thành những thành tựu của xã hội”; “Quản lí là những tác động có định hướng, có kế hoạch của chủ thể quản lí đến đối tượng bị quản lí trong tổ chức để vận hành tổ chức, nhằm đạt mục đích nhất định” [27, tr. Tác giả Trần Kiểm cũng cho rằng: “Quản lí là những tác động của chủ thể quản lí trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực trong và ngoài tổ chức một cách tối ưu nhằm đạt được mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất” [26, tr.
Trong luận văn này tác giả sử dụng khái niệm sau đây của tác giả Trần Kiểm về công tác quản lí: “Quản lí là một quá trình tác động có tổ chức, có mục đích của chủ thể quản lí lên khách thể và các đối tượng quản lí nhằm sử dụng hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường” [25, tr. Bản chất quản lí đó chính là các hoạt động của chủ thể quản lí tác động lên các đối tượng quản lí để đạt được mục tiêu đã xác định. Khái niệm quản lí giáo dục Nếu nói giáo dục là hiện tượng xã hội, vĩnh hằng thì cũng có thể nói như thế về quản lí giáo dục. Giáo dục xuất hiện nhằm thực hiện cơ chế truyền kinh nghiệm lịch sử - xã hội của loài người, của thế hệ đi trước cho thế hệ đi sau để thế hệ đi sau có trách nhiệm kế thừa, phát triển không ngừng.