chương 1, ta có những vấn đề cơ bản như sau: Dự trữ ngoại hối là các tài sản quốc gia, thuộc quyền kiểm soát của các cơ quan quản lý, thường được cất giữ dưới dạng ngoại tệ mạnh nhằm mục đích thanh toán quốc tế hoặc hỗ trợ giá trị đồng tiền quốc gia. Vai trò của dự trữ ngoại hối là hết sức quan trọng đối với nền kinh tế dự trữ ngoại hối điều tiết tỷ giá thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, bảo tồn dự trữ ngoại hối Nhà nước và cải thiện cán cân thanh toán quốc tế để đảm bảo cho một quốc gia luôn luôn trong trạng thái có thể thanh toán các khoản nợ đúng hạn và có thể giải quyết những giao động về tỷ giá ngoại hối trong ngắn hạn. Dự trữ ngoại hối có thể hình thành từ nhiều nguồn khác nhau, gồm: (i) Hoạt động xuất nhập khẩu, (ii) Các nguồn tư bản di chuyển vào trong nước đưới dạng kiều hối, đầu tư vay nợ để cân bằng cán cân thanh toán quốc tế. Thặng dư cán cân thương mại thường được coi là nguồn cung ngoại hối quan trọng nhất.
Do đó các quốc gia luôn chú trọng tăng cường và thúc đẩy hoạt động thương mại. Nếu cán cân tổng thể thặng dư hay thâm hụt, dự trữ ngoại hối sẽ là yếu tố thay đổi đầu tiên. Nếu cán cân tổng thể thặng dư, ngân hàng trung ương sẽ mua ngoại tệ vào làm dự trữ ngoại hối tăng. Ngược lại, nếu cán cân tổng thể thâm hụt, ngân hàng trung ương sẽ bán ngoại tệ ra làm dự trữ ngoại hối giảm.
Để đánh giá được quy mô dự trữ của mỗi quốc gia, người ta chủ yếu dựa vào 3 chỉ tiêu là: (i) dự trữ ngoại hối/nợ ngắn hạn, (ii) dự trữ ngoại hối/M2, (iii) dự trữ ngoại hối/tuần nhập khẩu. Quản lý dự trữ ngoại hối là một quá trình đảm bảo tài sản ngoại hối quốc gia được bảo toàn, bảo đảm khả năng sẵn sàng thanh toán và lợi nhuận và được kiểm soát bởi cơ quan có thẩm quyền nhằm thực hiện mục tiêu đề ra. Từng quốc gia khác nhau sẽ có chiến lược riêng khi quản lý dự trữ ngoại hối của mình nhưng đều phải tuân thủ theo 3 nguyên tắc cơ bản, đó là: an toàn, thanh khoản và sinh lời. Trong công tác quản lý dự trữ ngoại hối cần quan tâm tới quy mô và kết cấu dự trữ.
Quản lý quy mô dự trữ ngoại hối cần phải thường xuyên đánh giá quy mô theo các chỉ tiêu quốc tế thường áp dụng để có kế hoạch kịp thời thay đổi và thích ứng. Quản lý cơ cấu dự trữ ngoại hối cần quan tâm đến hình thức nắm giữ, kỳ hạn nắm giữ và đồng tiền nắm giữ. 16 CHƯƠNG 2 QUẢN LÝ DỰ TRỮ NGOẠI HỐI CỦA TRUNG QUỐC VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM 2. KHÁI QUÁT VỀ NỀN KINH TẾ TRUNG QUỐC Nền kinh tế Trung Quốc là nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới nếu tính theo GDP danh nghĩa, trong khoảng từ cuối năm 2009 là thời gian cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu xảy ra cho tới nay.
Theo số liệu thống kê của IMF tính đến đầu năm 2018 thì Trung Quốc đứng ngay sau Mỹ với trị giá 14000 tỷ USD, tăng 2000 tỷ USD so với cùng kỳ năm 2017. Để có cái nhìn toàn diện về một nền kinh tế hùng hậu này thì cần xem xét qua các chỉ tiêu sau: 2. Tình hình tăng trưởng kinh tế Kể từ khi bắt đầu cải cách thị trường vào năm 1978, Trung Quốc đã chuyển từ nền kinh tế kế hoạch tập trung sang nền kinh tế thị trường và đã trải qua sự phát triển kinh tế và xã hội nhanh chóng. Vào năm 1978, khi Trung Quốc bắt đầu chương trình cải cách kinh tế, nước này xếp thứ chín trong tổng sản phẩm quốc nội (GDP) với 214 tỷ USD; 31 năm sau, nó nhảy lên vị trí thứ hai với GDP danh nghĩa 9,2 nghìn tỷ USD.
Nền kinh tế Trung Quốc trải qua sự tăng trưởng đáng kinh ngạc với tốc độ tăng trưởng GDP trung bình gần 10% một năm - sự mở rộng bền vững nhanh nhất của một nền kinh tế lớn trong lịch sử - và đã giúp hơn 800 triệu người thoát nghèo. Tốc độ tăng trưởng GDP của Trung Quốc 2008 - 2017 12 10 8 6 4 2 0 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016 2017 Series1 9,6 9,2 10,6 9,5 7,7 7,7 7,3 6,9 6,7 6,8 Source: IMF, and Chinese National Bureau of Statistics 17 Trung Quốc là nước đóng góp lớn nhất cho tăng trưởng thế giới kể từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008. Trung Quốc đã vượt qua cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu tốt hơn so với hầu hết các nước khác. Vào tháng 11 năm 2008, Hội đồng Nhà nước đã công bố gói kích thích trị giá 4 nghìn tỷ CNY (585 tỷ USD) nhằm bảo vệ đất nước khỏi những ảnh hưởng tồi tệ nhất của cuộc khủng hoảng tài chính.
Chương trình kích thích kinh tế lớn thúc đẩy tăng trưởng kinh tế chủ yếu thông qua các dự án đầu tư lớn, gây ra mối lo ngại rằng đất nước có thể đã tạo ra bong bóng tài sản, đầu tư quá mức và năng lực dư thừa trong một số ngành công nghiệp. Với vị trí tài chính vững chắc của chính phủ, các biện pháp kích thích đã không làm gián đoạn tài chính công của Trung Quốc. Suy thoái toàn cầu và sự suy giảm tiếp theo trong nhu cầu đã làm, tuy nhiên, ảnh hưởng nghiêm trọng đến lĩnh vực bên ngoài và thặng dư tài khoản vãng lai liên tục giảm kể từ cuộc khủng hoảng tài chính. Tuy nhiên, Trung Quốc vẫn là một nước đang phát triển (thu nhập bình quân đầu người của nó vẫn là một phần nhỏ trong số thu nhập bình quân đầu người ở các nước tiên tiến) và cải cách thị trường của nó chưa đầy đủ.
Từ năm 2008 đến năm 2010, tăng trưởng GDP thực tế của Trung Quốc đạt 9,7%. Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng GDP chậm lại trong sáu năm liên tiếp, giảm từ 10,6% năm 2010 xuống còn 6,7% trong năm 2016. Đến hết năm 2017, trái với những lo ngại hồi đầu năm về những rủi ro tài chính trong bối cảnh Bắc Kinh đẩy mạnh cải tổ nền kinh tế, Trung Quốc đã có một năm phục hồi ngoạn mục. Sự phục hồi tăng trưởng này thể hiện rõ qua mức tăng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) 6,9% mà Tổng cục Thống kê Trung Quốc vừa công bố chiều ngày 18/1/2018.
Theo chuyên gia kinh tế Chi Lo thuộc BNP Paribas Investment: nền kinh tế Trung Quốc đang trải qua một giai đoạn "đảo lộn mang tính sáng tạo", khi các ngành mới như thương mại điện tử và dịch vụ tài chính cùng tồn tại bên cạnh những ngành kinh tế cũ vẫn giữ vai trò thống trị nền kinh tế. Mặc dù vậy, nền kinh tế cũ của Trung Quốc vẫn sẽ chiếm ưu thế so với kinh tế mới, nên "khi hòa trộn tác động của hai bên, toàn bộ nền kinh tế vẫn vấp phải rào cản tăng trưởng" Triển vọng kinh tế thế giới của IMF dự báo GDP thực của Trung Quốc sẽ hạ nhiệt vừa phải xuống 6,5% vào năm 2018 và sẽ duy trì ở mức 6,4 – 6,6% vào các năm tiếp theo. So với 2017 thì đây là mức thấp hơn tuy nhiên nó thể hiện của sự thay đổi dần dần mức tăng trưởng hướng đến mức phát triển bền vững hơn trong dài hạn. Trong cuộc 18 họp chính sách của Trung Quốc, lãnh đạo đã tuyên bố cuối cùng của cuộc họp chính sách nói rằng "nền kinh tế Trung Quốc đã chuyển từ giai đoạn tăng trưởng nhanh sang giai đoạn phát triển chất lượng cao".
Nền kinh tế Trung Quốc đang đi đúng hướng để đạt được mục tiêu dài hạn tăng gấp đôi sản lượng từ năm 2010 – 2020. Tình hình xuất nhập khẩu Trước khi cải cách mở cửa, Trung Quốc phải gánh chịu sự thiếu hụt nghiêm trọng về hàng tiêu dùng và dịch vụ. Sau năm 1978, khả năng cung cấp hàng tiêu dùng của Trung Quốc tăng nhanh và có thể đáp ứng nhu cầu của người dân. Năm 2007, sản lượng lương thực của Trung Quốc đạt 501,6 triệu tấn, tăng 64,6% so với năm 1978.
Giá trị gia tăng công nghiệp năm 2007 vượt mức 10.000 tỷ nhân dân tệ (1.470 tỷ USD), tăng 23 lần so với năm 1978. Năm 2007, Trung Quốc đứng đầu thế giới về sản lượng sản phẩm nông nghiệp như ngũ cốc, thịt và bông. Năm 2008, tuy phải chịu cú sốc từ khủng hoảng tài chính thế giới nhưng Trung Quốc vẫn đạt thặng dư cán cân thương mại là 3488 tỷ USD. Tuy năm 2009, xuất nhập khẩu của Trung Quốc giảm mạnh tuy nhiên đã nhanh chóng gia tăng trở lại vào giai đoạn 2009 – 2013, tăng thặng dư từ 2201 tỷ USD lên tới 2354 tỷ USD.
Cả xuất khẩu và nhập khẩu đều tăng trưởng mạnh mẽ. Xuất nhập khẩu của Trung Quốc 2008 - 2017 (đơn vị: trăm triệu USD) 30.000 xuất khẩu nhập khẩu cán cân thương mại Nguồn: SAFE Năm 2011, kim ngạch xuất nhập khẩu của Trung Quốc đứng thứ 2 thế giới, liên tiếp 3 năm là nước xuất khẩu lớn nhất và nước nhập khẩu lớn thứ 2 trên thế giới. Kim ngạch xuất nhập khẩu của Trung Quốc chỉ tăng trưởng 3,4% năm 2014, năm 2015 giảm 19 7%. Người phụ trách hữu quan của Tổng cục Hải quan Trung Quốc cho biết, về mặt xuất khẩu, nhu cầu bên ngoài ảm đạm, cuộc khủng hoảng tài chính quốc tế từ năm 2008 đến nay đã phá hoại động lực tăng trưởng kinh tế của thế giới, sự hồi phục của kinh tế thế giới nhìn chung yếu ớt, dẫn đến thương mại toàn cầu bước vào thời điểm điều chỉnh sâu, từ đó kiềm chế tăng trưởng xuất khẩu của Trung Quốc.
Về mặt nhập khẩu, giá các mặt hàng khối lượng giao dịch lớn trên thế giới sụt giảm. Đó chính là nguyên nhân dẫn đến tình hình ngoại thương năm ngoái không mấy sáng sủa vào thời gian này. Tuy nhiên, xuất khẩu của Trung Quốc vẫn tốt hơn rõ rệt so với các nền kinh tế chủ yếu trên thế giới, hơn thế nữa còn có biểu hiện nổi bật về mặt nâng cao chất lượng, hiệu quả cũng như xuất nhập khẩu những mặt hàng chất lượng cao. Theo dữ liệu chính thức từ Tân Hoa Xã, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Trung Quốc tăng 14,2%, đạt 27.790 tỉ nhân dân tệ (tương đương 4.280 tỉ USD) hồi năm ngoái, chấm dứt sự sụt giảm liên tục trong 2 năm trước đó.
Tổng cục Hải quan (GAC) cho biết kim ngạch xuất khẩu của Trung Quốc tăng 10,8%, đạt 15.330 tỉ nhân dân tệ trong khi kim ngạch nhập khẩu tăng mạnh 18,7%, lên 12.460 tỉ nhân dân tệ trong năm 2017.