CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT VỀ PHÁP LUẬT VỀ THÀNH LẬP VÀ QUẢN LÝ ĐIỀU HÀNH DOANH NGHIỆP KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRỰC THUỘC CƠ SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC CÔNG LẬP TẠI VIỆT NAM 1. Khái quát về CSGDĐH công lập và doanh nghiệp KH&CN trực thuộc CSGDĐH công lập 1. Khái quát về CSGDĐH công lập Trong hệ thống giáo dục quốc dân tại Việt Nam, giáo dục đại học là bậc đào tạo cao nhất thực hiện chức năng đào tạo các chương trình đại học và sau đại học nhằm mục đích phục vụ cộng đồng; ngoài ra, CSGDĐH còn có nhiệm vụ thực hiện các hoạt động KH&CN (khoản 1 Điều 4, Luật GDĐH sửa đổi năm 2018).
CSGDĐH bao gồm đại học, trường đại học và CSGDĐH có tên gọi khác phù hợp với quy định của pháp luật. Theo đó, Luật GDĐH phân biệt sự khác nhau giữa hai khái niệm đại học và trường đại học. Trường đại học, học viện (gọi chung là trường đại học) là CSGDĐH cung cấp dịch vụ đào tạo nghiên cứu đa ngành nghề, còn đại học là CSGDĐH cung cấp dịch vụ đào tạo nghiên cứu đa lĩnh vực (khoản 2 và 3 Điều 4, Luật GDĐH sửa đổi năm 2018); cả hai đơn vị này đều thiết lập cơ cấu tổ chức tuân thủ theo quy định của Luật GDĐH. Trong đó, đại học quốc gia, đại học vùng là các CSGDĐH thực hiện nhiệm vụ chiến lược và phát triển vùng của quốc gia.
Cơ cấu tổ chức của các CSGDĐH nói chung không có sự khác biệt, quy định trong Điều 14 và 15 Luật GDĐH sửa đổi năm 2018 bao gồm Hội đồng trường; hiệu trưởng và phó hiệu trưởng; các khoa, phòng chức năng, thư viện, tổ chức KH&CN, tổ chức phục vụ đào tạo khác; các trường, phân hiệu, viện nghiên cứu, cơ sở dịch vụ, doanh nghiệp, cơ sở kinh doanh và các đơn vị khác thành lập theo nhu cầu phát triển của trường đại học. Điểm khác biệt duy nhất trong cơ cấu của đại học đó là trường đại học được liệt kê nằm trong cơ cấu của đại học theo Điều 15 Luật GDĐH, hay nói cách khác đây là mô hình đại học trong đại học. Các loại hình CSGDĐH được phép thành lập theo quy định là CSGDĐH công lập và CSGDĐH tư thục, trong đó CSGDĐH công lập là “do Nhà nước đầu tư, bảo đảm điều kiện hoạt động và là đại diện chủ sở hữu” (điểm a khoản 2 Điều 7, Luật GDĐH sửa đổi năm 2018). Hai loại hình CSGDĐH này đều mang những đặc tính cơ Nguyễn Phương Thảo - 820091 6 Luan van bản chung và đều thực hiện mục tiêu được đề ra như trên, tuy nhiên CSGDĐH công lập có những đặc trưng về cơ cấu tổ chức và quản lý điều hành như sau: Thứ nhất, CSGDĐH công lập được Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập, trực thuộc các Bộ và cơ quan ngang Bộ có thẩm quyền hoặc UBND cấp tỉnh.
Do vậy, tổ chức này là một đơn vị sự nghiệp công lập cung cấp dịch vụ về GDĐH theo định nghĩa của Luật Viên chức: “Đơn vị sự nghiệp công lập là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý Nhà nước” (khoản 1 Điều 9, Luật Viên chức sửa đổi năm 2019). Thứ hai, CSGDĐH công lập thuộc sở hữu của Nhà nước và do Nhà nước thành lập, do vậy thuộc sự quản lý và giám sát về tổ chức và hoạt động theo quy định của Nhà nước cũng như cơ quan chủ quản là Bộ và cơ quan ngang Bộ, và chính quyền địa phương. Về cơ cấu tổ chức, CSGDĐH công lập có những bộ phận cơ bản như Hội đồng trường, Hiệu trưởng và Phó Hiệu trưởng, các phòng ban chức năng và khoa đào tạo, viện nghiên cứu chuyên ngành. Các quy trình, thủ tục thành lập, công nhận Hội đồng trường cũng như việc công nhận, bổ nhiệm hay bãi nhiệm, miễn nhiệm chủ tịch Hội đồng trường hoặc các thành viên khác của Hội đồng trường đều phụ thuộc vào cơ quan chủ quản và cơ quan quản lý Nhà nước.
Ngoài ra, các vấn đề về tổ chức nhân sự, tài chính, huy động vốn, xây dựng cơ sở vật chất, chế độ đãi ngộ cán bộ giảng viên… đều bị phụ thuộc nhiều vào cơ quan chủ quản và chịu sự quản lý chuyên môn của cơ quan quản lý Nhà nước về GDĐH. Thứ ba, cơ sở vật chất và nguồn tài chính đều do Nhà nước đầu tư và đảm bảo kinh phí, do vậy phải tuân thủ theo các quy định pháp luật về quản lý và sử dụng các tài sản này. Về cơ chế quản lý tài chính, các CSGDĐH công lập được phép tự chủ trong khuôn khổ nhất định. Các CSGDĐH công lập có quyền tự chủ tối đa ở một số khoản chi nhất định, nhưng đồng thời phải tuân thủ các khoản mục chi đã được ấn định bởi cơ quan phân bổ và giao dự toán.
Là bậc đào tạo cao nhất trong hệ thống giáo dục, các CSGDĐH nói chung và các CSGDĐH công lập nói riêng là nguồn cung cấp trực tiếp nguồn nhân lực có kiến thức, trình độ và chất lượng cao cho xã hội, đồng thời còn thực hiện nhiệm vụ là trung Nguyễn Phương Thảo - 820091 7 Luan van tâm nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ phục vụ cho công cuộc chung phát triển KH&CN. Vai trò này được thể hiện rất rõ trong mục tiêu đề ra trong Luật GDĐH: “(a) Đào tạo nhân lực, nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài; nghiên cứu khoa học, công nghệ tạo ra tri thức, sản phẩm mới, phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và hội nhập quốc tế; (b) Đào tạo người học có phẩm chất chính trị, đạo đức; có kiến thức, kỹ năng thực hành nghề nghiệp, năng lực nghiên cứu và phát triển ứng dụng KH&CN tương xứng với trình độ đào tạo; có sức khỏe; có khả năng sáng tạo và trách nhiệm nghề nghiệp, thích nghi với môi trường làm việc; có ý thức phục vụ Nhân dân” (Điều 5 Luật GDĐH sửa đổi năm 2018). Khái quát về doanh nghiệp KH&CN trực thuộc CSGDĐH công lập Loại hình doanh nghiệp KH&CN đã xuất hiện trên thế giới từ lâu đời, và đã thu hút nhiều sự chú ý trong thời gian gần đây. Nguồn gốc của loại doanh nghiệp này xuất phát từ mô hình spin-off (doanh nghiệp khởi nguồn) và start-up (doanh nghiệp khởi nghiệp) từ các nước công nghiệp phát triển như Mỹ và Châu Âu.
Doanh nghiệp spin-off được thành lập và quản lý bởi các cá nhân tạo ra các tài sản KH&CN nhằm mục đích khai thác kết quả nghiên cứu từ các tài sản KH&CN được phát triển bên trong tổ chức mẹ. Doanh nghiệp start-up được hình thành dựa trên nền tảng của các kết quả phát triển KH&CN. Dù được định nghĩa khác nhau nhưng hai mô hình doanh nghiệp này đều có những đặc điểm chung là: đều có sự khởi đầu từ các kết quả nghiên cứu KH&CN; và có khả năng thực hiện đổi mới và thương mại hóa các kết quả nghiên cứu KH&CN (Vân Anh, 2014). Trong môi trường GDĐH hiện đại, mô hình doanh nghiệp spin-off hiện đang phổ biến hơn cả, do nguồn gốc của loại doanh nghiệp này bắt nguồn từ các trường đại học và hoạt động của nó cũng gắn liền với công cuộc nghiên cứu và phát triển sản phẩm và dịch vụ khoa học của trường đại học.
Các nhà khoa học nước ngoài đã đưa ra rất nhiều định nghĩa khác nhau về doanh nghiệp spin-off trong nhiều năm vừa qua. Trong công trình nghiên cứu của mình, Bigliardi và cộng sự (2013) đã trích dẫn một số định nghĩa mang tính khái quát nhất về hiện tượng này từ những công trình nghiên cứu nổi bật. Cụ thể, Roberts và Malone (1996) định nghĩa doanh nghiệp spin-off là một cơ chế trong đó chính phủ tìm cách tạo ra tác động kinh tế từ hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D) của họ, Nguyễn Phương Thảo - 820091 8 Luan van bằng cách chuyển giao công nghệ từ việc nghiên cứu và phát triển cho các tổ chức thương mại. Tương tự, Rogers và Takegami (2001) định nghĩa doanh nghiệp spin-off là những công ty dựa trên các tổ chức mẹ về R&D, có thể là phòng thí nghiệm R&D của Chính phủ hay các trường đại học; trung tâm nghiên cứu, viện nghiên cứu của trường đại học; các tổ chức R&D tư nhân.
Nico-laou và Birley (2003) đề xuất một định nghĩa khác về doanh nghiệp spin-off có tính đến yếu tố con người của chính hoạt động spin-off, cho rằng doanh nghiệp spin-off là một doanh nghiệp được thành lập bởi các cá nhân từng là nhân viên của tổ chức mẹ, nơi mà công nghệ và các nhà nghiên cứu hàn lâm có thể tách ra khỏi tổ chức; hoặc tách riêng công nghệ ra khỏi tổ chức nhưng các nhà nghiên cứu hàn lâm vẫn làm việc trong trường đại học; hoặc tách riêng công nghệ ra khỏi tổ chức nhưng các nhà nghiên cứu hàn lâm vẫn có phần ở trong đó mặc dù không có mối liên hệ gì với doanh nghiệp mới này. Shane (2004), định nghĩa mô hình doanh nghiệp spin-off học thuật là những doanh nghiệp công nghệ cao có hoạt động kinh doanh cốt lõi dựa trên việc định giá thương mại các kết quả nghiên cứu KH&CN. Trong khi đó, Conti và cộng sự (2011) định nghĩa doanh nghiệp spin-off là những công ty bắt nguồn từ trường đại học, trong đó một nhóm các nhà nghiên cứu thành lập đơn vị kinh doanh nhằm mục đích khai thác các kết quả nghiên cứu khoa học được phát triển trong trường đại học. Bất kể doanh nghiệp spin- off được hiểu theo định nghĩa nào thì vẫn thể hiện được một tính chất hiện hữu và dễ nhận biết nhất của các doanh nghiệp spin-off học thuật, đó là sự liên quan của nó đến việc chuyển giao công nghệ cốt lõi từ các cơ sở giáo dục học thuật cho một doanh nghiệp mới, và những người sáng lập doanh nghiệp này có thể bao gồm các nhà nghiên cứu học thuật, và họ có thể có hoặc không có mối liên hệ với các cơ sở giáo dục học thuật (Bigliardi, Galati & Verbano, 2013).
Tại Việt Nam, định nghĩa về doanh nghiệp KH&CN lần đầu tiên được nhắc đến trong Hội nghị lần VI Ban chấp hành Trung ương Đảng Khóa IX, nêu rõ định hướng chuyển đổi các tổ chức KH&CN “thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ sang cơ chế tự trang trải kinh phí, hoạt động theo cơ chế doanh nghiệp” (mục 3a, Kết luận số 14-KL/TW ngày 26/7/2002).