QUAN LY DO THI TSKH. NGUYEN NGOC CHAU UAN LY DO THI NHA XUAT BAN XAY DUNG HÀ NỘI - 2001 LỜI NÓI ĐẦU Nita sau của thế kỷ XX, ở Việt Nam mới bạn hành những chính sách có tác động tích cực tới mọi mặt trong đời sống xã hội ở đô thị, thực sự đưa đến những biến đối quan trọng trong cơ cẩu xã hội, cơ cấu lao động và nghề nghiệp, phong cách và lối sống văn mình đô thị hiện đại cũng như sự thay đổi về hình thể không gian kiến trúc, quy hoạch, giao thông vận tải và các dịch vụ công cộng khác ở đô thị. Từ đó, vấn đề quản lệ các dịch vụ công cộng ở đô thị đã trở thành một nhiệm vụ vô cùng quan trọng đối với các cấp chính quyền ở đô thị. Những kiến thức và kinh nghiệm trong công tác qHy hoạch và quản lý đô thị của các cấp chính quyền ở đô thị còn nhiêu vấn đề cân phải bàn, mãi đến những năm cuối của thập kỷ 90 ở Việt Nam mới thực hiện việc đào tạo, đào tạo lại và bôi dưỡng kiến thức quản lý đô thị cho cán bộ quản lý ở các cấp chính quyền đô thị.
Từ đó đến nay đã phân nào đáp ứng được nhu cầu của công tác quản lý đô thị trong sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đạt hóa đất nước. Cuốn sách này cung cấp những kiến thức mới về quản lý các dịch vụ công cộng ở đô thị, được dùng làm tài liệu giảng dạy cho sinh viên trong các trường đại học và phục vụ các kháa bôi dưỡng kiến thức ngắn han cho cán bộ quản lý đô thị trong cả nước. Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách này với độc giả và mong nhận được sự quan tâm của các bạn đông nghiệp. Tác giả CHUONG | QUA TRINH HINH THANH VA PHAT TRIỂN ĐÔ THỊ 1.
KHÁI NIỆM VỀ SỰ HÌNH THÀNH VA PHAT TRIEN ĐÔ THỊ Xã hội càng văn minh, nhu cầu cuộc sống càng phát triển. Trong đó một bộ phận lao động xã hội tách khỏi sản xuất nông nghiệp làm nghề thủ công, buôn bán và quản lý xã hội. Những người này cùng với gia đình họ sống tập trung trong các điểm dân cư với hình thức cư trú mới, lao động và sinh hoạt mang tính chuyên môn hóa cao. Đó là mầm mống hình thành lối sống văn mỉnh buổi ban đầu của nhân loại, hay còn gọi là điểm dân cư đô thị.
Như vậy, sự phân công lao động xã hội theo hướng chuyên môn hóa được xem là một tiền dé cơ bản của đời sống xã hội đô thị. Càng về sau này trên cơ sở phát triển của lực lượng sản xuất, của cách mạng công nghiệp và tiến bộ của khoa học kỹ thuật, đô thị được hình thành và phát triển với tốc độ ngày càng nhanh hơn. Vậy đô thị được định nghĩa như sau : Đô thị là nơi tập trung đông đúc dân cư, chủ yếu là lao động phi nông nghiệp, họ sống và làm việc theo phong cách và lối sống thành thị. Đó là lối sống được đặc 5 trưng bởi những đặc điểm : có nhu cầu về tỉnh thần Cao, tiếp thu nên văn minh của nhân loại nhanh chón g, có đầu tư cơ sở kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội đây đủ và thuận tiện, Đo hoàn cảnh phát triển kinh tế - xã hội khác nhau mà mỗi nước có những quy định cũng khác nhau về quy mô điểm dân cư đô thị, nhưng đều thống nhất ở những tiêu chuẩn cơ bản sau day : * Quy m6 điểm dân cư đô thị có ít nhất 4 nghì n người (ở miền núi có thể thấp hơn), * Ty lé lao dong phi nông nghiệp chiếm 60% trở lên, + Có mật độ cư trú được xác định theo từng loại đô thị phù hợp với đặc điểm của từng vùng, x Có đầu tư cơ sở hạ tầng kỹ thuật và các công trình công cộng phục vụ nhu cầu của dân cư đô thị.
* Đô thị có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một vùng lãnh thổ hoặc của cả nước. LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ TRÊN THẾ Giới 1. Những nét cơ bản trong phát triển Kể từ khi các đô thị bất đâu hình thành cho đến khi các cuộc cách mạng công nghiệp nổ ra, đô thị đã trải qua ba giai đoạn phát triển : Cổ đại, Trung đại và Cận đại, Qua các giai đoạn phát triển, đô thị đã trở thành một cộng đồng dan 6 nhất ‘eur đông đúc, có mật độ cư trú cao và tính không thuần về xã hội. Vì vậy, yêu cầu được kiểm soát về chính trị, xã hội, cao.
hành chính đối với dân chúng được đặt ra ngày càng số thấp Những đô thị xa xưa thời Cổ đại có mật độ dân và chỉ đảm nhận chức năng hành chính gắn với quyền lực. Thời kỳ này người ta chú ý nhiều nhất đến việc sử dụng cư trú. dat dai ở đô thị để xây cất các công sở và làm nơi được xây Các tầng lớp thống trị sống ở vùng trung tâm và phố vườn, dựng các khu biệt thự theo hình thái của thành công mỹ còn nhân dân lao động và các hoạt động thủ trung nghệ, buôn bán nhỏ được bố trí ở bên ngoài vùng cấp rất rõ tâm. Điều này phản ánh sự phân biệt cơ cấu giai rệt thời Cổ đại.
đương Thời Trung đại, các đô thị tiền công nghiệp phải đã hoành đầu với một loạt vấn đề, nhất là nạn dịch bệnh dịch “đen” hành và hủy diệt vô số nhân mạng, như bệnh Âu và xẩy ra vào thế kỷ XIV đã hủy điệt 3/4 dân số Châu kiện ăn Châu Á. Nguyên nhân do mật độ cư trú cao và điều dịch bệnh ở, vệ sinh không đảm bảo, dẫn đến các nguy cơ số ở các xuất hiện và hủy điệt con người. Lúc bấy giờ dân thành thị đã bị giảm khá nhiều, vì thế một khối lượng lớn tế đó đã nhu cầu về lương thực không cần như trước. Thực p, họ lại làm cho nông dân ở các miền quê trở nên thất nghiệ thợ thủ kéo nhau vào các đô thị để kiếm sống và trở thành dân số công, mỹ nghệ, buôn bán,v.
góp phần phục hồi kỷ XVI, lượng dân số trong các đô thị. Mãi đến cuối thế ngăn chặn và nhờ có tiến bộ trong lĩnh vực y học cho phép 7 dap tắt các dịch bệnh. Nhờ các tiến bộ tron g việc nâng cao sản lượng và chất lượng hàng hóa mà các đô thị trên thế giới đã chuyển sang một bước phát triển mới, mạnh mé hơn, gắn liền với các cuộc cách mạng công nghiệp từ thế kỷ XIX cho đến ngày nay. Một số khu vực của thế giới, do không có những cải tiến trong sản xuất nông nghiệp và công nghi ệp nên vẫn ở trong tình trạng nghèo khổ và bệnh tật triển miên, một số nước lại bị biến thành thuộc địa của thực dân phươ ng Tây, mà chính sách của các nhà nước cai trị đương thời là ngăn cản xu thế.
Vì vậy tại những nước này việc phát triển đô thị hết sức chậm chạp. Lịch sử phát triển đô thị và quản lý đô thị trên thế giới Lịch sử phát triển đô thị chia làm bốn giai đoạn, thời kỳ Cổ đại, từ năm 4000 trước Công nguyên đến 500 sau Công nguyên. Trong giai đoạn này còn được phân làm hai đoạn, đoạn một từ năm 4000 đến 1000 trước Công nguyên. Đây là giai đoạn phát triển đầu thời Cổ đại, đặc biệt ở Trung Cận Đông.
Tiếp đến là từ năm 1000 trước Công nguyên đến năm 300 sau Công nguyên, tiêu biểu cho sự phát triển đô thị cổ đại ở Âu châu. Giai đoạn hai là từ năm 500 đến 1500, tiêu biểu cho thời kỳ Trung đại. Giai đoạn ba từ năm 1500 đến năm 1800, tiêu biển cho thời kỳ đổi mới, xây dựng lại các đô thị cho đến thời Cận đại. Giai đoạn cuối cùng từ năm 1800 đến nay, là giai đoạn phát triển đô thị kiểu hiện đại, 8 Giai đoạn này cũng có thể phân thành 3 thời kỳ: thế kỷ XIX (1800 - 1900); thời kỳ nửa đầu thế kỷ XX (1900 - 1950), và từ năm 1950 - đến nay.
a) Đô thị thời Cổ đại. Khu vực Trung Cận Đông được biết đến là nơi phát sinh sớm nhất của nên văn minh đô thị. Khu vực định cư kiểu đô thị được công nhận là cổ nhất thế giới là thành phố Jericho, hiện thuộc nước Israel, có 8000 năm lịch sử. Đô thị này có 3000 thị dân, sống ở hạ lưu thung lũng Jordan.
Các đô thị cổ đại được khám phá thành một hệ thống, tiêu biểu cho một nền văn mỉnh đô thị đầu tiên là của triều đại Sumer ở vùng sông nam Mesopotamia (Tiểu Á), trên bờ sông Tigre và Euphrates có từ 3500 năm trước Công nguyên (trước Công nguyên gọi là BC). Những đô thị này được vua Sargon thống nhất lại (2334 BC) và lấy đô thị Ur làm kinh đô của đế chế Sumerian trải dài suốt vùng đất Mesopotamia. Không xa con sông Euphrates là sông Nile vĩ đại, nơi định cư của người Ai Cập cổ đại. Các đô thị cổ của người Ai Cập xây dựng đọc theo sông Nile thuộc về vương quốc Ai Cập thống nhất cai trị bởi triểu đại Memphis từ những năm 3200BC.
Ở đây, vua (pharaonh) Djéser đã xây kim tự tháp đầu tiên vào năm 2650 BC. Cũng trong giai đoạn thứ nhất này ở phương Đông nước Trung Hoa cổ đại cũng phát triển mạnh mẽ. Khoảng 2000 năm trước Công nguyên, triểu đại nhà Hạ đã xây đựng một chế độ chiếm hữu nô lệ, có thành lập kinh đô ở Hà Nam, 9 ven sông Hoàng Hà. Nhà Hạ mở mang sản xuất nông nghiệp, đào kênh rạch và hình thành chữ viết.
Trải qua các triều đại Ân - Thương (1700 BC), đô thị phát triển cùng với sự phát triển của công cụ bằng sắt, sản xuất nông nghiệp, thủ công mỹ nghệ, thương mại thúc đẩy xã hội tiến bộ mạnh mẽ. Đặc biệt là khoa học xã hội phát triển mạnh dân hình thành những học thuyết triết học, tôn giáo duy tâm, Đến thời nhà Chu (bắt đầu từI 100 BC - 1000 BỘ đô thị đã phát triển rực rỡ. Nhà Chu kéo dài 800 năm cho đến 221 BC là thời kỳ phát triển rực rỡ của nhiều ngành khoa học xã hội tiêu biểu là triết học cai trị xã hội như đạo Nho, đạo Lão, đạo Giáo. Những đô thị thời đó tập trưng đông đúc dân cư, phén thịnh như Trường An và Lạc Dương (thời Đông Chu) là niềm tự hào của Trung Hoa cổ đại.
Những thời gian sau đó, các thành phố bị chiến tranh liên miên (Xuân Thu Chiến Quốc 475-221 BC) cho đến thắng lợi của nhà Tần.