Tổng quan luận án
Công tác bảo vệ và phát huy giá trị các di tích lịch sử - văn hóa giữ vai trò quyết định trong việc gìn giữ di sản, đồng thời thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Di tích lịch sử quân sự cách mạng là một bộ phận cấu thành của hệ thống di tích lịch sử - văn hóa, gắn liền với các cuộc kháng chiến giành độc lập dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Tuy nhiên, hoạt động quản lý các di tích này đang đối mặt với nhiều bất cập lớn: nhiều di tích bị biến dạng sau các hoạt động trùng tu thiếu cơ sở khoa học; yếu tố gốc cấu thành di tích bị mai một do khí hậu khắc nghiệt và các tác động của con người; vật liệu xây dựng phần lớn không bền vững (tre, nứa, gỗ, tranh, đất tự nhiên) hoặc nằm ngoài trời. Đặc biệt, công tác phối hợp giữa các chủ thể quản lý chưa đạt hiệu quả do sự phân cấp, phân quyền thiếu thống nhất. Dù cùng thuộc nhóm di tích quốc gia đặc biệt hoặc di sản thế giới, cơ chế quản lý tại mỗi nơi lại có sự khác biệt đáng kể: Khu di tích Chiến trường Điện Biên Phủ do Ban Quản lý Di tích tỉnh Điện Biên (thuộc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Điện Biên) quản lý; Tổng hành dinh trong khu Trung tâm Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội do Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long - Hà Nội (trực thuộc Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội) quản lý; trong khi Địa đạo Củ Chi do Bộ Tư lệnh Quân khu 7 phối hợp cùng Ủy ban nhân dân huyện Củ Chi quản lý. Do đó, việc nghiên cứu một cách hệ thống thực trạng và đề xuất giải pháp quản lý các di tích này là một yêu cầu cấp bách.
Luận án xác định mục đích và các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể như sau:
- Mục đích nghiên cứu: Đánh giá thực trạng và đưa ra giải pháp nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của các bên liên quan trong quản lý các di tích lịch sử quân sự cách mạng ở Việt Nam, qua các trường hợp cụ thể: Chiến trường Điện Biên Phủ, Tổng hành dinh trong khu Trung tâm Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội, Địa đạo Củ Chi.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan để tìm ra hướng đi cho luận án, nghiên cứu cơ sở lý luận, lựa chọn lý thuyết để vận dụng triển khai luận án và xây dựng khung phân tích;
- Nghiên cứu hiện trạng, đặc điểm và giá trị tiêu biểu của các di tích lịch sử quân sự cách mạng trong diện khảo sát;
- Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý các di tích lịch sử quân sự cách mạng từ các trường hợp nghiên cứu điển hình, gồm: di tích Chiến trường Điện Biên Phủ, Tổng hành dinh trong khu Trung tâm Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội và Địa đạo Củ Chi;
- Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý di tích lịch sử quân sự cách mạng trong bối cảnh hiện nay.
Hệ thống câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết khoa học của luận án bao gồm:
- Câu hỏi nghiên cứu:
- Có những tổ chức, cá nhân nào cùng tham gia quản lý di tích lịch sử quân sự cách mạng? Công việc cụ thể của mỗi tổ chức, cá nhân là gì?
- Sự phối hợp của các tổ chức, cá nhân này trong quản lý di tích lịch sử quân sự cách mạng có chặt chẽ và hiệu quả không?
- Vấn đề gì còn tồn tại hoặc phát sinh trong quá trình quản lý di tích lịch sử quân sự cách mạng và cần làm gì để tháo gỡ vấn đề đó?
- Giả thuyết khoa học: Di tích lịch sử quân sự cách mạng đang chịu sự quản lý của nhiều tổ chức, đơn vị, cá nhân. Tuy nhiên, do sự chồng chéo trong nhiệm vụ, cơ chế phối hợp thiếu chặt chẽ nên hiệu quả quản lý chưa cao, các giá trị di tích chưa được bảo vệ và phát huy hiệu quả. Vì thế, cần có mô hình quản lý phù hợp và giải pháp để vận hành mô hình đó, góp phần thực hiện quan điểm chỉ đạo của Đảng về đổi mới phân cấp, phân quyền, ủy quyền và nâng cao hiệu quả phối hợp trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu được xác định rõ:
- Đối tượng nghiên cứu: Sự phối hợp và hoạt động quản lý của các bên liên quan tại các di tích lịch sử quân sự cách mạng (qua ba trường hợp cụ thể là Khu di tích Chiến trường Điện Biên Phủ, Tổng hành dinh trong khu Trung tâm Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội, Địa đạo Củ Chi).
- Phạm vi không gian: Ba khu di tích gắn liền với hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, thuộc ba vùng văn hóa du lịch tiêu biểu của Việt Nam. Trong đó, hai di tích là di tích quốc gia đặc biệt, một di tích là bộ phận cấu thành của Di sản văn hóa thế giới. Riêng tại Trung tâm Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội, nghiên cứu tập trung vào di tích lịch sử Nhà D67 và hầm D67.
- Phạm vi thời gian: Luận án triển khai theo hai mốc thời gian: Mốc thứ nhất nghiên cứu từ thời điểm di tích hình thành và gắn với các giá trị lưu giữ (Điện Biên Phủ sau năm 1954; Tổng hành dinh xây dựng năm 1967; Địa đạo Củ Chi hình thành trong kháng chiến chống Pháp và hoàn thiện hệ thống đường hầm quy mô lớn vào năm 1966); Mốc thứ hai nghiên cứu công tác quản lý di tích (thu thập số liệu, minh chứng, thông tin phỏng vấn) từ năm 2014 đến nay, giai đoạn giữa hai kỳ Đại hội Đảng lần thứ XI và XII, gắn với việc thực hiện Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2020 (ban hành năm 2009).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các công trình nghiên cứu về quản lý di sản văn hóa trên thế giới và tại Việt Nam đã hình thành một khối lượng học thuật đáng kể:
- Nghiên cứu quốc tế: Brian Garrod và Alan Fyall (2000) trong Managing heritage tourism khẳng định yêu cầu cân bằng giữa bảo tồn và khai thác di sản. Arthur Perdesen trong Managing Tourism at World Heritage Sites: a Practical Manual for World Heritage Site Managers đề cập tới các giải pháp duy trì tài nguyên bền vững trước áp lực du lịch qua khoanh vùng và điều tiết lượng khách. Peter Howard trong Heritage: Management, Interpretation, Identity phân tích lịch sử quản lý di sản từ thế kỷ XIX và nhấn mạnh mục đích bảo tồn vì lợi ích công chúng. Hilary du Cros và Yok-Shiu F. Lee trong Cultural heritage management in China: Preserving the cities of the Pearl River Delta phân tích quy trình và kỹ năng quản lý di sản tại Trung Quốc. Zhan Chang Yuan trong Culture Industrial management tiếp cận quản lý di sản dưới góc độ một ngành công nghiệp. Về Địa đạo Củ Chi, các học giả như John Penycate, Tom Mangold, Mydans S., Riddle L., Krishna A. đã phân tích di tích này dưới góc nhìn lịch sử quân sự và chiến tranh nhân dân.
- Nghiên cứu trong nước: Lê Hồng Lý phân tích khái niệm và nội dung quản lý di sản gắn với du lịch; Nguyễn Chí Bền nghiên cứu bảo tồn di sản vật thể Thăng Long - Hà Nội trong khuôn khổ Chương trình KX.09; Nguyễn Thị Kim Loan và Nguyễn Trường Tân hệ thống hóa các nội dung quản lý nhà nước về di sản; Phan Hồng Giang và Bùi Hoài Sơn làm rõ quản lý nhà nước và phát triển sự nghiệp văn hóa; Trương Quốc Bình khẳng định tính thống nhất giữa quản lý di sản và phát triển bền vững. Các luận án tiến sĩ liên quan gồm Trần Đức Nguyên (quản lý di tích tại Bắc Ninh), Trịnh Ngọc Chung (quản lý di sản thế giới tại Huế và Hội An), Phạm Văn Triệu (di tích kiến trúc thời Lý tại Hoàng thành Thăng Long), Nguyễn Thị Hằng (Địa đạo Củ Chi trong đời sống cộng đồng). Các bài nghiên cứu của Đặng Văn Bài, Nguyễn Quốc Hùng, Bùi Hoài Sơn, Lưu Trần Tiêu, Quang Minh và Nguyễn Thị Thu Trang, Nguyễn Viết Cường làm rõ thêm các góc độ về phân cấp quản lý, bảo tồn thích ứng và vai trò cộng đồng.
- Nghiên cứu về di tích lịch sử quân sự và ba địa bàn khảo sát: Kỷ yếu Hội nghị Bảo tồn - bảo tàng truyền thống toàn quân, cuốn sách 40 năm Viện Bảo tàng Quân đội, các công trình của Phạm Vũ Sơn, Phạm Hồng Châu, Vũ Thiên Bình, Nguyễn Phạm Xanh, Nguyễn Đức Nguyên đã làm rõ đặc trưng của di tích quân sự và cách mạng. Đối với ba trường hợp cụ thể: Khu di tích Chiến trường Điện Biên Phủ được nghiên cứu qua Điện Biên Phủ - Hợp tuyển công trình khoa học, đề tài cắm mốc khoanh vùng của Vũ Nam Hải, cùng các hội thảo khoa học năm 2014 của Bộ Quốc phòng và tỉnh Điện Biên; di tích Tổng hành dinh được đề cập trong ấn phẩm của Viện Khoa học xã hội Việt Nam (2010), sách của Vũ Văn Quân, Nguyễn Vinh Phúc, đề tài của Viện Bảo tồn di tích (2020) và các hội thảo năm 2015, 2020 của Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long - Hà Nội; di tích Địa đạo Củ Chi được khảo sát qua các công trình của Trần Đình Dũng, Hồ Sĩ Thành, Diệp Hồng Phương, Võ Tấn Tạo, Trần Văn Tâm và sách tổng kết 30 năm của Huyện ủy Củ Chi.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án lựa chọn giải quyết:
Tổng quan tài liệu cho thấy chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống về di tích lịch sử quân sự cách mạng; khái niệm này chưa được định hình rõ ràng trong chuyên ngành Quản lý văn hóa. Các nghiên cứu trước đây chủ yếu nhìn nhận ba địa danh trên dưới góc độ di tích lịch sử - văn hóa nói chung, tập trung vào giá trị lịch sử và nghệ thuật mà chưa phân tích đầy đủ giá trị khoa học quân sự. Các vấn đề về tác động kinh tế - xã hội, đô thị hóa và hội nhập quốc tế đối với công tác quản lý chưa được đánh giá có hệ thống. Quan trọng hơn, chưa có công trình nào đi sâu khảo sát công cụ và phương thức quản lý trên cơ sở lý thuyết các bên liên quan, đặc biệt là cơ chế phối hợp liên ngành giữa Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Quốc phòng và chính quyền địa phương nhằm khắc phục sự chồng chéo trong quản lý thực tế.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án xây dựng hệ thống cơ sở lý thuyết và khái niệm làm nền tảng phân tích:
- Di tích lịch sử - văn hóa: Được xác định dựa trên Điều 1 Hiến chương Venice (1964), Từ điển Bách khoa Việt Nam và Điều 28 Luật Di sản văn hóa.
- Di tích lịch sử quân sự: Tiếp thu định nghĩa của Phạm Vũ Sơn và Từ điển Tiếng Việt, là công trình, địa điểm gắn với sự kiện, hoạt động vũ trang hoặc danh nhân quân sự tiêu biểu.
- Di tích cách mạng: Tiếp cận quan điểm của Nguyễn Quốc Hùng và Nguyễn Phạm Xanh, là bằng chứng vật chất và tinh thần phản ánh quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng.
- Di tích lịch sử quân sự cách mạng: Luận án định nghĩa là những di tích lịch sử - văn hóa gắn với lĩnh vực quân sự trong thời đại Hồ Chí Minh; là những địa điểm, công trình quân sự gắn liền với lịch sử cách mạng Việt Nam đấu tranh giành độc lập dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
- Tổng hành dinh: Cơ quan đầu não lãnh đạo tối cao về quân sự của quốc gia, nơi làm việc của Tổng Tư lệnh tối cao cùng bộ tham mưu trong thời chiến.
- Quản lý nhà nước đối với di tích lịch sử quân sự cách mạng: Hoạt động có mục đích của chủ thể mang quyền lực nhà nước, chủ yếu bằng pháp luật, tác động lên đối tượng quản lý nhằm bảo tồn và trao truyền các giá trị tiêu biểu của di tích cho tương lai. Bộ máy quản lý văn hóa vận hành theo 4 cấp hành chính (Trung ương: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Cấp tỉnh: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Cấp huyện: Phòng Văn hóa và Thông tin; Cấp xã: công chức Văn hóa - Xã hội), kết hợp với sự tham gia của Bộ Quốc phòng thông qua Cục Tuyên huấn (Tổng cục Chính trị), các Quân khu, Bộ Chỉ huy quân sự và hệ thống bảo tàng quân đội (thực hiện theo Quyết định số 414/QĐ-CT ngày 22/4/2005 và Quyết định số 101/QĐ-CT ngày 25/1/2007).
- Khung lý thuyết: Luận án vận dụng Lý thuyết các bên liên quan (Stakeholder theory) làm khung phân tích chủ đạo, kết hợp tiếp cận liên ngành (Xã hội học, Nhân học, Sử học, Khảo cổ học, Tâm lý học).
Về phương pháp nghiên cứu thực tế, tác giả kết hợp nghiên cứu định tính và định lượng:
- Phương pháp khảo sát, điền dã thực địa: Khảo sát thực tế hiện trạng kỹ thuật, không gian cảnh quan và bộ máy quản lý tại ba khu di tích.
- Phương pháp điều tra xã hội học bằng bảng hỏi: Tổng số phiếu phát ra là 910 phiếu, thu về 861 phiếu hợp lệ. Cơ cấu mẫu điều tra được phân bổ cụ thể theo bảng dưới đây:
| Địa bàn khảo sát |
Đối tượng điều tra |
Số phiếu phát ra |
Số phiếu hợp lệ |
Thời gian điều tra |
| Di tích Chiến trường Điện Biên Phủ |
Cán bộ, công chức, viên chức, người lao động tại Bảo tàng Lịch sử chiến thắng Điện Biên Phủ |
100 |
99 |
Tháng 5/2019 |
|
Khách du lịch đến tham quan Điện Biên Phủ |
200 |
186 |
Tháng 5/2019 |
| Cộng Điện Biên Phủ |
|
300 |
285 |
|
| Tổng hành dinh (Trung tâm Hoàng thành Thăng Long) |
Cán bộ, sĩ quan, quân nhân Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam |
25 |
24 |
Tháng 6/2019 |
|
Học viên Trường Đại học Văn hóa Nghệ thuật Quân đội (chuyên ngành Văn hóa văn nghệ quần chúng) |
60 |
56 |
Tháng 6/2019 |
|
Cán bộ, nhân viên Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long - Hà Nội |
75 |
71 |
Tháng 6/2019 |
|
Khách tham quan Trung tâm Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội |
150 |
146 |
Tháng 6/2019 |
| Cộng Hoàng thành Thăng Long |
|
310 |
297 |
|
| Di tích Địa đạo Củ Chi |
Bộ Tư lệnh Thành phố Hồ Chí Minh |
50 |
49 |
Tháng 7/2019 |
|
Ban Quản lý Khu di tích lịch sử Địa đạo Củ Chi |
50 |
47 |
Tháng 7/2019 |
|
Khách du lịch tham quan Địa đạo Củ Chi |
200 |
183 |
Tháng 7/2019 |
| Cộng Địa đạo Củ Chi |
|
300 |
279 |
|
| TOÀN BỘ BA KHU DI TÍCH |
|
910 |
861 |
|
- Phương pháp phỏng vấn chuyên gia (phỏng vấn sâu): Tiến hành phỏng vấn sâu 10 chuyên gia đầu ngành trong các lĩnh vực quản lý di sản văn hóa, bảo tồn - bảo tàng, kinh tế, du lịch và khảo cổ học (danh sách lập tại Phụ lục 2 của luận án).
- Phương pháp mô hình hóa và so sánh: Mô hình hóa cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý tại ba khu di tích để so sánh, làm rõ những điểm bất hợp lý, thiếu thống nhất giữa các mô hình.
- Phương pháp tổng hợp, phân tích, thống kê và phân loại: Xử lý các tài liệu lưu trữ, văn bản pháp quy, số liệu thống kê hiện vật và hồ sơ khoa học di tích.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về quản lý di tích lịch sử quân sự cách mạng
Chương 1 hệ thống hóa các tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước về quản lý di sản văn hóa, di tích lịch sử văn hóa và di tích quân sự. Tác giả chỉ ra rằng các công trình trước đây chủ yếu tập trung vào khía cạnh bảo tồn di tích nói chung, chưa định hình khái niệm di tích lịch sử quân sự cách mạng và chưa tiếp cận việc quản lý từ lý thuyết các bên liên quan.
Chương này xây dựng hệ thống khái niệm công cụ, làm rõ bản chất quản lý nhà nước đối với di tích lịch sử quân sự cách mạng. Luận án phân tích cơ chế quản lý văn hóa khép kín theo 4 cấp hành chính từ Trung ương (Chính phủ, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) đến cơ sở (Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện, công chức cấp xã), đồng thời xác định thẩm quyền phối hợp của Bộ Quốc phòng theo quy định của Luật Di sản văn hóa, Quyết định số 414/QĐ-CT và Quyết định số 101/QĐ-CT. Tác giả luận giải việc áp dụng lý thuyết các bên liên quan nhằm nhận diện và phân tích mối quan hệ giữa cơ quan quản lý văn hóa, lực lượng quân đội, chính quyền địa phương, doanh nghiệp, nhà khoa học và cộng đồng cư dân sở tại.
Chương 2: Khái quát về các di tích lịch sử quân sự cách mạng: di tích Chiến trường Điện Biên Phủ, Tổng hành dinh trong khu Trung tâm Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội, Địa đạo Củ Chi
Chương 2 trình bày toàn diện về lịch sử hình thành, hiện trạng kỹ thuật và các giá trị tiêu biểu của ba khu di tích khảo sát:
- Khu di tích Chiến trường Điện Biên Phủ:
- Hiện trạng: Theo Quyết định số 41-VH/QĐ ngày 12/4/1983, diện tích khoanh vùng bảo vệ ban đầu là 25.000 m2 (khu vực bảo vệ I là 875 m2). Đến văn bản số 9003-CV/VPTW ngày 09/3/2019 của Văn phòng Trung ương Đảng, hiện trạng di tích mở rộng gồm hai hệ thống với 45 điểm di tích thành phần: 23 điểm liên quan đến trận địa phòng ngự của quân Pháp (gồm Sở chỉ huy của De Castries, hầm chỉ huy pháo binh Piroth, sân bay Mường Thanh, cầu Mường Thanh, các cứ điểm Him Lam, Độc Lập, Bản Kéo, Hồng Cúm, A1, C1, C2, D1, E1...) và 22 điểm gắn với Quân đội nhân dân Việt Nam (Sở chỉ huy chiến dịch tại Mường Phăng với đường hầm xuyên sơn dài 97m, cao 1,70m, rộng 1,20m nối lán làm việc của Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái; các trận địa pháo 105mm, pháo H6, đường kéo pháo bằng tay, Đèo Pha Đin, hang Thấm Púa...).
- Số liệu kỹ thuật bảo vệ: Trong tổng số 45 điểm di tích thành phần, có 45/45 điểm xác định khu vực bảo vệ I; 30/45 điểm có khu vực bảo vệ II; 28/45 điểm được cắm mốc trên thực địa; 23/45 điểm có đầy đủ hồ sơ khoa học; 9/45 điểm đã thực hiện đầu tư tôn tạo; và mới chỉ có 6/45 điểm tổ chức bán vé tham quan. Toàn tỉnh Điện Biên hiện lưu giữ khoảng 4.000 hiện vật chiến trường.
- Giá trị tiêu biểu: Giá trị lịch sử ghi dấu chiến thắng kết thúc 9 năm kháng chiến chống Pháp, làm phá sản Kế hoạch Navarre, buộc Pháp ký Hiệp định Genève. Giá trị khoa học và nghệ thuật quân sự thể hiện qua phương châm tác chiến "đánh chắc, tiến chắc", phương thức "vây hãm tiến công, đột phá dứt điểm lần lượt", nghệ thuật đánh lấn, công kiên và nghệ thuật vận tải thô sơ bằng xe đạp thồ (gia cố thanh tre dài 1m vào tay lái, thanh tre cao 50cm vào cọc yên). Giá trị văn hóa thể hiện qua chính sách khoan hồng với hàng vạn tù hàng binh Pháp, khơi dậy tinh thần đoàn kết dân tộc và trở thành nguồn cảm hứng sáng tác các tác phẩm âm nhạc ("Hò kéo pháo" của Hoàng Vân, "Trận Him Lam" và "Giải phóng Điện Biên" của Đỗ Nhuận), văn học (thơ Tố Hữu) và điện ảnh (Hoa ban đỏ, Giải phóng Điện Biên).
- Di tích Tổng hành dinh trong khu Trung tâm Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội:
- Lịch sử và cấu trúc: Nằm trên trục Bắc - Nam của Thành cổ Hà Nội (Bắc Môn - Hậu Lâu - D67 - nền điện Kính Thiên - Đoan Môn - Kỳ Đài). Từ sau năm 1954, khu vực này là trụ sở của Bộ Quốc phòng. Năm 1967, Bộ Quốc phòng xây dựng Nhà D67 kiên cố trong khu A. Công trình gồm Phòng họp của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, Phòng làm việc của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Phòng làm việc của Đại tướng Văn Tiến Dũng, cùng 2 lối hầm dẫn xuống Hầm D67.
- Giá trị tiêu biểu: Là nơi làm việc liên tục của Bộ Thống soái tối cao từ tháng 9/1968 đến ngày 30/4/1975, đưa ra các chỉ đạo mang tính quyết định trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, 12 ngày đêm đánh trả không quân Mỹ năm 1972, Chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975 và các chỉ đạo trong chiến tranh bảo vệ biên giới.
- Di tích Địa đạo Củ Chi:
- Lịch sử và cấu trúc: Bắt đầu hình thành từ thời kỳ chống Pháp, đến năm 1966 phát triển thành một hệ thống đường hầm nhiều tầng, liên hoàn trong lòng đất, phục vụ ăn ở, hội họp, cứu chữa thương binh và tác chiến phòng thủ, tiến công của quân dân miền Nam.
- Giá trị tiêu biểu: Biểu tượng của thế trận chiến tranh nhân dân, thể hiện sự mưu trí, kiên cường bám trụ đánh giặc của quân và dân Củ Chi.
Chương 3: Thực trạng quản lý di tích lịch sử quân sự cách mạng nhìn từ các bên liên quan
Chương 3 phân tích thực trạng quản lý tại ba khu di tích dựa trên việc nhận diện các nhóm chủ thể tham gia: cơ quan quản lý văn hóa nhà nước, lực lượng quân đội, chính quyền địa phương, ban quản lý chuyên trách, doanh nghiệp du lịch, chuyên gia và cộng đồng dân cư.
Tác giả chỉ rõ sự thiếu thống nhất trong cơ chế phân cấp và mô hình tổ chức bộ máy. Tại Điện Biên Phủ, việc Ban Quản lý Di tích trực thuộc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch quản lý gặp nhiều khó khăn do 45 điểm di tích nằm rải rác trên diện rộng, sức ép đô thị hóa thành phố Điện Biên Phủ dẫn đến tình trạng lấn chiếm đất đai tại nhiều điểm di tích chưa được cắm mốc thực địa (chỉ 28/45 điểm được cắm mốc). Tại Hoàng thành Thăng Long, sự phối hợp giữa Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long - Hà Nội với Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam và Bộ Quốc phòng trong bảo quản kỹ thuật Nhà D67 còn phát sinh vướng mắc về thẩm quyền. Tại Củ Chi, mô hình phối hợp giữa Bộ Tư lệnh Quân khu 7 và Ủy ban nhân dân huyện Củ Chi bộc lộ những điểm cần hoàn thiện về cơ chế điều hành chung.
Kết quả điều tra 861 phiếu khảo sát và phỏng vấn 10 chuyên gia phản ánh rõ nét thực trạng này: cơ chế phối hợp liên ngành còn lỏng lẻo, dịch vụ trải nghiệm tại di tích còn đơn điệu (chỉ 6/45 điểm ở Điện Biên Phủ có bán vé), công tác bảo quản các cấu kiện bằng đất, tre nứa, bao cát, hầm hào ngoài trời bị hư hại nghiêm trọng dưới tác động của thời tiết mà chưa có quy trình kỹ thuật chuẩn hóa.
Chương 4: Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý di tích lịch sử quân sự cách mạng trong điều kiện hiện nay
Chương 4 đề xuất hệ thống giải pháp xuất phát từ các bất cập đã nhận diện:
- Hoàn thiện cơ chế, chính sách: Xây dựng quy chế phối hợp liên ngành chính thức giữa Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Quốc phòng và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi có di tích; phân định rõ trách nhiệm, quyền hạn của từng bên theo tinh thần đổi mới phân cấp, phân quyền.
- Kiện toàn mô hình tổ chức quản lý: Tinh gọn bộ máy quản lý di tích, thành lập hội đồng tư vấn khoa học chuyên môn liên ngành quân sự - văn hóa để giám sát các hoạt động bảo tồn, trùng tu.
- Công tác quy hoạch và kỹ thuật bảo tồn: Đẩy nhanh tiến độ cắm mốc thực địa, giải tỏa lấn chiếm đất đai, hoàn thiện hồ sơ khoa học cho 22 điểm di tích thành phần còn lại tại Điện Biên Phủ; nghiên cứu ứng dụng vật liệu bền vững để gia cố các công trình hầm hào, công sự mà không làm biến dạng yếu tố gốc.
- Phát huy giá trị di tích: Đa dạng hóa các sản phẩm du lịch, hoạt động trải nghiệm lịch sử; đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ di sản và kiến thức lịch sử quân sự cho đội ngũ cán bộ, thuyết minh viên.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án xác lập những đóng góp mới cụ thể về mặt lý luận và thực tiễn:
- Về mặt lý luận:
- Là công trình nghiên cứu hệ thống đầu tiên về quản lý di tích lịch sử quân sự cách mạng trong chuyên ngành Quản lý văn hóa.
- Xây dựng hệ thống lý luận chuyên biệt: xác định khái niệm, đặc điểm cấu thành, giá trị khoa học quân sự và tính tất yếu của việc quản lý loại hình di tích lịch sử quân sự cách mạng.
- Vận dụng thành công lý thuyết các bên liên quan để xây dựng khung phân tích và mô hình quản lý di tích, cung cấp luận cứ lý thuyết đánh giá mối quan hệ giữa cơ quan quản lý nhà nước, quân đội và cộng đồng.
- Về mặt thực tiễn:
- Cung cấp bức tranh thực trạng toàn diện, có căn cứ khoa học về hoạt động quản lý tại ba khu di tích lịch sử quân sự cách mạng điển hình: Chiến trường Điện Biên Phủ, Tổng hành dinh (Nhà D67) và Địa đạo Củ Chi.
- Phác họa mô hình quản lý di tích lịch sử quân sự cách mạng phù hợp với bối cảnh hiện nay, khắc phục sự chồng chéo, phân tán quyền hạn giữa ngành văn hóa và lực lượng quân đội.
- Cung cấp cơ sở thực tiễn để các cơ quan hữu quan hoàn thiện quy chế phối hợp liên ngành, cắm mốc khoanh vùng bảo vệ di tích và nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch di sản.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của luận án: Luận án giới hạn phạm vi khảo sát thực tế tại ba khu di tích đại diện cho ba vùng du lịch, chưa thể bao quát toàn bộ hệ thống di tích lịch sử quân sự cách mạng trên phạm vi toàn quốc. Về thời gian, các số liệu điều tra xã hội học và khảo sát quản lý tập trung chủ yếu từ năm 2014 đến năm 2019. Tại Trung tâm Hoàng thành Thăng Long, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu điểm di tích Nhà D67 và hầm D67 thay vì toàn bộ phức hệ di tích.
- Hướng nghiên cứu tiếp theo: Tiếp tục mở rộng khảo sát các di tích lịch sử quân sự cách mạng khác gắn với hai cuộc kháng chiến và chiến tranh bảo vệ biên giới; nghiên cứu sâu quy trình kỹ thuật bảo tồn thích ứng đối với dạng vật liệu kém bền vững (đất, tre, gỗ) trong điều kiện biến đổi khí hậu; nghiên cứu bổ sung hồ sơ khoa học cho các điểm cứ điểm còn lại tại Chiến trường Điện Biên Phủ chưa được nhận diện đầy đủ.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn đối với:
- Cơ quan quản lý nhà nước: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Cục Di sản văn hóa, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trong việc ban hành chính sách phân cấp và xây dựng quy chế phối hợp quản lý di tích.
- Hệ thống cơ quan Quân đội: Tổng cục Chính trị, Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam, các Quân khu trong việc tham gia bảo tồn, thẩm định hồ sơ kỹ thuật quân sự tại các di tích lịch sử.
- Ban quản lý di tích: Các ban quản lý di tích quốc gia đặc biệt, bảo tàng lịch sử áp dụng mô hình liên kết các bên liên quan để giải quyết mâu thuẫn giữa bảo tồn yếu tố gốc và phát triển du lịch.
- Cơ sở nghiên cứu, đào tạo: Giảng viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh chuyên ngành Quản lý văn hóa, Di sản học, Bảo tàng học sử dụng làm tài liệu nghiên cứu chuyên đề về quản lý di sản quân sự.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án định nghĩa di tích lịch sử quân sự cách mạng như thế nào?
Di tích lịch sử quân sự cách mạng được xác định là những di tích lịch sử - văn hóa gắn với lĩnh vực quân sự trong thời đại Hồ Chí Minh; là những địa điểm, công trình quân sự gắn liền với lịch sử cách mạng Việt Nam đấu tranh giành độc lập dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
2. Hiện trạng khoanh vùng và bảo vệ 45 điểm di tích thuộc Chiến trường Điện Biên Phủ được ghi nhận ra sao?
Theo văn bản số 9003-CV/VPTW, di tích gồm 45 điểm (23 điểm thuộc trận địa phòng ngự của Pháp, 22 điểm gắn với Quân đội nhân dân Việt Nam). Trong đó, 45/45 điểm có khu vực bảo vệ I; 30/45 điểm có khu vực bảo vệ II; 28/45 điểm được cắm mốc trên thực địa; 23/45 điểm có hồ sơ khoa học hoàn chỉnh; 9/45 điểm được đầu tư tôn tạo; và 6/45 điểm tổ chức bán vé tham quan. Tỉnh Điện Biên đang lưu giữ khoảng 4.000 hiện vật chiến trường.
3. Sự khác biệt về chủ thể quản lý tại ba khu di tích khảo sát là gì?
Cả ba đều là di tích quốc gia đặc biệt hoặc di sản thế giới nhưng mô hình chủ thể khác nhau: Khu di tích Chiến trường Điện Biên Phủ do Ban Quản lý Di tích tỉnh Điện Biên (thuộc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Điện Biên) quản lý; Tổng hành dinh do Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long - Hà Nội (thuộc Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội) quản lý; Địa đạo Củ Chi do Bộ Tư lệnh Quân khu 7 phối hợp cùng Ủy ban nhân dân huyện Củ Chi quản lý.
4. Luận án sử dụng cỡ mẫu điều tra xã hội học như thế nào để phục vụ nghiên cứu?
Luận án phát ra 910 phiếu hỏi và thu về 861 phiếu hợp lệ tại ba địa bàn (Điện Biên Phủ: phát 300, thu 285; Hoàng thành Thăng Long: phát 310, thu 297; Địa đạo Củ Chi: phát 300, thu 279), khảo sát các nhóm đối tượng gồm cán bộ quản lý, nhân viên bảo tàng, quân nhân, học viên trường quân đội và khách du lịch trong các tháng 5, 6 và 7 năm 2019. Đồng thời, tác giả thực hiện phỏng vấn sâu 10 chuyên gia đầu ngành.
5. Vì sao lý thuyết các bên liên quan được lựa chọn làm khung phân tích cho luận án?
Bởi vì quản lý di tích lịch sử quân sự cách mạng trên thực tế có sự tham gia của nhiều chủ thể với chức năng, lợi ích và thẩm quyền khác nhau (ngành văn hóa, quân đội, chính quyền địa phương, cư dân, doanh nghiệp). Lý thuyết các bên liên quan cho phép phân tích rõ cơ chế tương tác, sự chồng chéo nhiệm vụ và tìm ra giải pháp điều hòa, phối hợp hiệu quả giữa các bên.
Kết luận
Luận án đã giải quyết có hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý di tích lịch sử quân sự cách mạng tại Việt Nam thông qua ba trường hợp nghiên cứu điển hình. Bằng cách tiếp cận liên ngành và vận dụng lý thuyết các bên liên quan, tác giả đã chỉ rõ các điểm nghẽn trong phân cấp quản lý, cơ chế phối hợp và hiện trạng kỹ thuật của di tích. Các giải pháp do luận án đề xuất là căn cứ khoa học trực tiếp hỗ trợ các nhà quản lý văn hóa và cơ quan quốc phòng hoàn thiện mô hình quản lý, góp phần bảo tồn bền vững và phát huy giá trị di sản quân sự cách mạng trong giai đoạn hiện nay.