CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN TIN HỌC THEO TIẾP CẬN NĂNG LỰC HỌC SINH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Tổng quan nghiên cứu về dạy học và quản lý dạy học tiếp cận năng lực Môn Tin học 1. Tổng quan nghiên cứu về dạy học và quản lý dạy học tiếp cận năng lực 1. Các công trình nghiên cứu nước ngoài Giáo dục và quản lý giáo dục theo định hướng phát triển NL là những vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước hết sức quan tâm.
Các biện pháp quản lý để nâng cao hiệu quả hoạt động dạy học trong nhà trường luôn là trọng điểm nghiên cứu của các nhà giáo dục. Nhiều công trình nghiên cứu của các nhà quản lý nước ngoài đã đề cập đến vấn đề cốt lõi của dạy học TCNL và quản lý hoạt động dạy học TCNL HS như: -Tư tưởng về hoạt động dạy học TCNL HS (cũng gọi là dạy học theo TCNL HS) có thể nói đã được đề cập từ lâu trong lịch sử cả ở Phương Đông và phương Tây mặc dù còn sơ khai. - Từ thế kỷ XX, nhiều nhà giáo dục tiến bộ đã quan tâm xu hướng dạy học hướng đến người học, khai thác NL của mỗi cá nhân người học.Dewey (được trích dẫn bởi Hà Nhật Thăng và Đào Thanh Tâm, 1998) cho rằng xu hướng và tiềm năng của người thợ là "làm một việc gì đấy" nên giáo dục có nhiệm vụ phải dạy cho họ biết "làm như thế nào để họ trở thành người thợ lành nghề…”. Ông cho rằng NL bẩm sinh, đặc điểm riêng của nhân cách có ý nghĩa tuyệt đối đến việc đào tạo cá nhân và lựa chọn nghề nghiệp của họ.
Vì thế, dạy học phải hướng đến người học, đảm bảo cho người học có thể học bằng sự phân tích kinh nghiệm của 6 mình. Ông cho rằng, một nền giáo dục tiến bộ là làm cho trẻ em hiểu biết lí luận ít chừng nào hay chừng ấy. Quá trình học tập là quá trình mà người học “tự tiến hành xử lý kinh nghiệm” theo nhu cầu cá nhân dưới sự giúp đỡ của nhà giáo dục. Do đó, dạy học phải chú ý đến đặc điểm riêng biệt của mỗi người, đặc biệt là nhu cầu, hứng thú.
Dạy học theo TCNL HS có thể coi là một tên gọi khác của dạy học định hướng kết quả đầu ra, một công cụ để thực hiện giáo dục định hướng điều khiển đầu ra (outcomes based curriculum). Trong dạy học theo TCNL, mục tiêu dạy học được mô tả thông qua các nhóm NL. Đầu ra của cách tiếp cận này tập trung vào hệ thống NL cần có ở mỗi người học. Các tác giả và công trình nghiên cứu về HĐDH định hướng kết quả đầu ra và theo tiếp cận năng lực tập trung các hướng nghiên cứu như: (1) Quan điểm, bản chất HĐDH theo tiếp cận năng lực trong xu thế tất yếu của giáo dục hiện đại; (2) chương trình giáo dục theo tiếp cận năng lực; (3) Tổ chức hoạt động dạy học theo tiếp cận năng lực; (4) Kiểm tra và đánh giá HĐDH theo tiếp cận năng lực.
(1)Nghiên cứu về quan điểm, bản chất hoạt động dạy học theo tiếp cận năng lực trong xu thế tất yếu của giáo dục hiện đại: Nghiên cứu về HĐDH định hướng kết quả đầu ra và theo tiếp cận năng lực thu hút nhiều tổ chức và các nhà nghiên cứu như: - R. Boyatzid (1982) cho rằng, dạy học theo TCNL cần xử lý một cách có hệ thống 3 khía cạnh: xác định các NL; phát triển chúng; đánh giá chúng một cách khách quan. Do đó, muốn xác định được các NL, điểm bắt đầu thường là các kết quả đầu ra, sau đó xác định rõ vai trò của những người có trách nhiệm phải tạo ra các kết quả đầu ra này và với từng vai trò, xác định các NL cần thiết để có thể thực hiện tốt vai trò đó. Paprock (1996) đưa ra các đặc điểm cơ bản của TCNL trong dạy học bao gồm: (1) TCNL dựa trên triết lý người học là trung tâm; (2) TCNL thực hiện việc đáp ứng các đòi hỏi của chính sách; (3) TCNL là định hướng cuộc sống thật; (4) TCNL rất linh hoạt và năng 7 động; (5) Những tiêu chuẩn của NL được hình thành một cách rõ ràng.
Kerka (2001) đưa ra bốn quan điểm TCNL đó là TCNL cho phép cá nhân hóa việc học: trên cơ sở mô hình NL, người học sẽ bổ sung những thiếu hụt của mình để thực hiện những nhiệm vụ cụ thể; TCNL chú trọng vào kết quả đầu ra; TCNL tạo ra những linh hoạt trong việc đạt tới các kết quả đầu ra, theo những cách thức riêng phù hợp với đặc điểm và hoàn cảnh của cá nhân; TCNL còn tạo khả năng cho việc xác định một cách rõ ràng những gì cần đạt được và những tiêu chuẩn cho việc đo lường các thành quả học tập của người học. - Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế OECD (2002) cho rằng, NL là khả năng đáp ứng các yêu cầu phức hợp của cá nhân và thực hiện thành công nhiệm vụ trong bối cảnh cụ thể. Tổ chức này đã đề ra 3 nhóm NL cốt lõi cần đạt của HS phổ thông trong thời đại kinh tế tri thức, trong đó nhấn mạnh NL chính cần hình thành cho người học là NL xã hội và NL học tập suốt đời. OECD cũng đưa ra mục tiêu giáo dục là tạo ra những con người có những NL cần thiết cho một cuộc sống thành công của mỗi cá nhân, chịu trách nhiệm chung đối với xã hội đương đại, giải quyết những thách thức hiện tại và cả tương lai.
-Nghiên cứu của Diễn đàn Kinh tế thế giới WEF (2015) đã đưa ra 3 nhóm kỹ năng của thế kỷ XXI: (1) Văn hóa nền tảng (về đọc viết, tính toán, khoa học, môn Tin học thông tin, tài chính, công dân và xã hội); (2) NL: bao gồm: tư duy phản biện/giải quyết vấn đề, sáng tạo, giao tiếp, hợp tác; (3) Phẩm chất: bao gồm: ham tìm hiểu, sáng kiến, kiên trì/dũng cảm, thích ứng, lãnh đạo, hiểu biết về xã hội và văn hóa. - Richard Boyatzis (2007) với nghiên cứu Năng lực trong thế kỷ 21 (Competencies in the 21st century) đã chỉ ra khái niệm năng lực và cấu trúc của năng lực cũng như các thành tố tạo nên năng lực của cá nhân. Từ việc xác định rõ nội hàm của khái niệm năng lực, cấu trúc của năng lực, các thành tố tạo nên năng lực của cá nhân đã là cơ sở nền móng cho các nghiên cứu của tác giả sau này và các nhà nghiên cứu khác tiếp tục xác định, hoàn thiện khái niệm năng 8 lực, cấu trúc và các thành tố của năng lực từ đó tiến hành các nghiên cứu cụ thể về vấn đề này và các nghiên cứu cụ thể về dạy học tiếp cận năng lực người học. Claro (2009) đã nhấn mạnh những năng lực cần hình thành ở học sinh đó là: Sáng tạo/sự đổi mới; tư duy phê phán, giải quyết vấn đề; quyết định; giao tiếp; hợp tác; công nghệ thông tin và phương tiện truyền thông; nghiên cứu và hỏi đáp; quyền công dân; tính linh hoạt và khả năng thích ứng; năng suất; lãnh đạo và trách nhiệm.
Các tác giả đã nêu ra khá nhiều năng lực gần với thực tiễn cuộc sống mà định hướng giáo dục phổ thông của ta chưa đề cập đến. Tuy nhiên, tác giả chỉ đề cập đến việc thiết kế đào tạo theo cách tiếp cận năng lực cho đào tạo nghề chưa đề cập đến bậc phổ thông. Tác giả Rachel Bolstad (2004), cho rằng trong phát huy vai trò quản lý chương trình của giáo viên: “giáo viên nên là các nhà phát triển chương trình chứ không phải chỉ đơn giản là “máy phát” các chương trình giảng dạy đã được xây dựng sẵn”. Ðây là quan điểm cần được quan tâm thực hiện trong việc xây dựng chương trình giảng dạy ở nước ta.
Tác giả người Mỹ Peter F. Oliva (2005), đã giới thiệu các mô hình xây dựng chương trình ở những cấp trường khác nhau, với những triết lí, nguyên tắc triển khai và phương pháp đánh giá khác nhau. Mối quan hệ giữa xây dựng chương trình và công tác giảng dạy được đề cập một cách chi tiết. Những tác động của yêu cầu xã hội và nhân tố con người (phẩm chất và năng lực) trong việc thực hiện chương trình cũng được phân tích khá sâu sắc.
(3) Nghiên cứu về tổ chức hoạt động dạy học theo tiếp cận năng lực 9 Tác giả Giselle O. Theo Bramante (2014), phương pháp dạy học TCNL yêu cầu HS học những nội dung và kĩ năng quan trọng; yêu cầu HS thể hiện rằng mình đã học được những kĩ năng đó bằng cách ứng dụng những nội dung và kĩ năng học được để giải quyết vấn đề. Gervais (2016) đã đưa ra một định nghĩa về giáo dục dựa trên NL như sau: “Giáo dục dựa trên NL được định nghĩa như là một hướng tiếp cận dựa vào kết quả đầu ra của người học (Outcome - based education), kết hợp chặt chẽ giữa các phương thức giảng dạy và hình thức đánh giá được thiết kế nhằm đánh giá việc học của HS thông qua việc thể hiện kiến thức, thái độ, giá trị, kỹ năng và hành vi của chúng đối với yêu cầu đề ra ở mỗi trình độ”. (4) Nghiên cứu về kiểm tra và đánh giá hoạt động dạy học theo tiếp cận năng lực: Nghiên cứu về đánh giá theo NL, tác giả Guskey (2005), cho rằng giáo dục TCNL hướng tới việc đo lường chính xác kiến thức, kĩ năng và thái độ của người học sau khi kết thúc mỗi chương trình học.
Nhóm tác giả Birenbaum, M. (2006) cho rằng, NL là khả năng kết hợp sử dụng kiến thức, kĩ năng và thái độ để giải quyết vấn đề trong những bối cảnh cụ thể, vì thế chương trình giảng dạy và phương pháp đánh giá cũng phải kết hợp cả ba yếu tố đó. & Cox, D (2006) cho rằng đánh giá của giáo dục truyền thống tập trung đo lường kiến thức thông qua các kiểm tra viết và nói, thì giáo dục theo NL tập trung vào phát triển các NL cần thiết để HS có thể thành công trong cuộc sống cũng như trong công việc. 10 -Tác giả Howard Gardner trong tác phẩm Lý thuyết đa trí tuệ (Theory of Multiple intelligences), đã chỉ ra rằng mỗi người đều tồn tại một vài kiểu thông minh trong số 8 loại thông minh sau: thiên nhiên (tự nhiên học); logic – toán học; ngôn ngữ; âm nhạc; không gian; vận động cơ thể; nội tâm (hướng nội); giao tiếp (tương tác cá nhân).
Tuy vậy, với cá nhân mỗi người sẽ có những loại trí thông minh nổi trội hơn các trí thông minh còn lại.