Chương 1: cơ sở lý luận về QL hoạt động DHNPT ở Trung tâm GDKTTH. Chương 2: thực trạng QL hoạt động DHNPT ở Trung tâm GDKTTH số 5 HN. Chương 3: đề xuất biện pháp QL hoạt động DHNPT ở Trung tâm GDKTTH số 5 Hà Nội, trong giai đoạn hiện nay. 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC NGHỀ PHỔ THÔNG Ở TRUNG TÂM GIÁO DỤC KỸ THUẬT TỔNG HỢP 1.Tổng quan nghiên cứu về quản lý hoạt động DHNPT ở Trung tâm GDKTTH 1.
Những nghiên cứu về hoạt động DHNPT nói chung và ở Trung tâm GDKTTH nói riêng Giáo dục nghề, hướng nghiệp cho học sinh, đã được nhiều nước trên thế giới quan tâm nghiên cứu và đã triển khai từ những thập niên 50, 60 của thế kỷ thứ 19. Trên thực tế, nó đã trở thành một lĩnh vực tác nghiệp chuyên môn và được tích hợp chặt chẽ trong các hệ thống giáo dục, đào tạo. Giáo dục trung học phổ thông không chỉ có mục tiêu chuẩn bị nguồn cho giáo dục đại học, mà cần phải chuẩn bị cho học sinh những hiểu biết về “thế giới nghề nghiệp”, có được những kiến thức cơ bản nhất về một số nghề phổ thông, hình thành những kĩ năng kĩ thuật ban đầu trong lao động nghề, phát triển năng lực sáng tạo, ý thức tổ chức kỉ luật của người lao động. Vào giữa thế kỉ XIX, ở Pháp xuất hiện cuốn sách “Hướng nghiệp chọn nghề”.
Nội dung cuốn sách đề cập tới vấn đề phát triển đa dạng của nghề do sự phát triển công nghiệp, qua đó khẳng định tính cấp thiết phải giúp đỡ thanh thiếu niên học sinh đi vào “Thế giới nghề nghiệp” nhằm sử dụng hiệu quả lao động trẻ tuổi. Sang thế kỷ XX, các nước châu Âu (Pháp, Đức, Ba Lan), châu á (Nhật Bản, Ôxtrâylia) và Liên bang Nga đã đặc biệt quan tâm đến việc dạy môn Kỹ thuật, Công nghề, giáo dục Nghề cho học sinh. Ở Nhật Bản, công trình “Cải cách giáo dục Nhật Bản hướng tới thế kỉ 21” của Magumi Nishino (Viện nghiên cứu giáo dục Nhật Bản) đã nghiên cứu khá sâu sắc vấn đề bồi dưỡng tri thức và kĩ năng cơ bản của những ngành nghề cần thiết cho học sinh phổ thông. Jacques Delors, chủ tịch Uỷ ban quốc tế độc lập về giáo dục cho thế kỉ XXI của UNESCO, khi phân tích “Những trụ cột của giáo dục” đã viết: “Học tri thức, học làm việc, học cách chung sống và học cách tồn tại”, đó là 4 trụ cột mà ủy ban đã trình bày và minh họa những nền tảng của giáo dục.
Theo tác giả vấn đề GDHN và học nghề của học sinh phổ thông là một căn bản không thể thiếu được trong giáo dục. Tác giả đã nhấn mạnh việc học sinh có cơ hội phát triển năng lực của mình bằng cách tham gia các hoạt động nghề nghiệp song song với việc học tập tri thức. Dạy nghề phổ thông là xu thế mà nhà trường phổ thông của nhiều nước trên đang áp dụng có hiệu quả như: Nhật Bản, Trung Quốc, Hà Lan, Sing-Ga-Po, Ma- Lai-XiA… cung cấp cho học sinh những cơ sở khoa học về tự nhiên, xã hội và tư duy rèn luyện các kỹ năng thực hành chuẩn bị các cơ sở ban đầu cho việc tiếp thu 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com khoa học kỹ thuật nghề nghiệp và bước vào cuộc sống. Dạy nghề trong nhà trường phổ thông mang tính giáo dục tiền nghề nghiệp, chuẩn bị nghề cho học sinh là chủ yếu.
Ở đây chỉ trang bị những kiến thức, kỹ năng lao động cơ bản giúp cho học sinh làm quen với lao động và nghề nghiệp, khả năng vận dụng và thích ứng với cơ chế thị trường. Ở Việt Nam, trước hết phải kể đến quan điểm mang tính định hướng của chủ tịch Hồ Chí Minh. Theo Bác, một nhà trường vì nhu cầu “học, làm, sống tốt” của xã hội học tập là “nhà trường xã hội chủ nghĩa”: “Học đi với lao động. Lý luận đi với thực hành.
Cần cù đi với tiết kiệm”: học tốt (học đi với lao động, với thực hành), làm tốt (lao động, thực hành đi với học), sống tốt (cần, kiệm). Nghị quyết TW2 của Đảng cộng sản Việt Nam khoá VIII đề ra nhiệm vụ của ngành giáo dục cả nước là cần mở rộng và nâng cao chất lượng giáo dục kĩ thuật tổng hợp – hướng nghiệp. Tới Đại hội X và XI, Đảng ta đã xác định đổi mới toàn diện giáo dục - đào tạo, yêu cầu dạy học phân ban và tự chọn ở cấp THPT trên cơ sở làm tốt công tác GDKTTH, HN và phân luồng từ THCS. Đây cũng là cơ sở mở đường cho công tác nghiên cứu và DHNPT hiện nay- [13, tr.
Liên tiếp từ năm 1981 đến nay, Ban Giáo dục hướng nghiệp, Bộ Giáo dục đã nghiên cứu biên soạn tài liệu DHNPT và Sinh hoạt hướng nghiệp cho học sinh cuối cấp THCS và các lớp khối PTTH.Trong những năm gần đây, các nhà tâm lý học, giáo dục học, xã hội học, kinh tế học, chính trị học đã tiếp cận nhiều đến vấn đề dạy NPT và hoạt động GDHN cho học sinh phổ thông ở các khía cạnh khác nhau. Mục tiêu “Đổi mới công tác hướng nghiệp cho phù hợp với kinh tế thị trường. Quán triệt chủ trương đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo, đẩy mạnh việc củng cố và phát triển các Trung tâm KTTH - HN - DN” xác định cần: “Chú trọng việc hình thành những năng lực nghề nghiệp cho thế hệ trẻ để tự tìm ra việc làm”, đồng thời: “Tiếp sau quá trình hướng nghiệp, dứt khoát phải dạy nghề cho học sinh. đây sẽ là một nguyên tắc rất cơ bản”- [11, tr.
Mối quan hệ giữa học vấn phổ thông và học vấn nghề nghiệp đã được tác giả làm sáng tỏ: “Trong cơ chế đổi mới hiện nay vấn đề chuẩn bị nghề nghiệp là một yêu cầu nóng bỏng của thực tế xã hội”- [11, tr. Học vấn phổ thông và học vấn nghề nghiệp có phần giao thoa ngày càng rõ theo hướng mô đun hoá ở mức phổ thông. Phần giao thoa đó ngày càng lớn nghĩa là công tác GDHN và DNPT được tiến hành sớm và phát triển mạnh, đó là cơ sở cho việc định hướng và phân luồng học sinh, chuẩn bị nguồn nhân lực có chất lượng cho sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước. Kết quả nghiên cứu của tác giả hoàn toàn phù hợp với xu thế đổi mới 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com của giáo dục trung học hiện nay, giáo dục trung học đang ngày càng không còn là nền giáo dục cho một số ít người như vào đầu thế kỷ XX, giáo dục trung học ngày nay không phải chỉ để cho người học lên, mà còn chuẩn bị cho thanh niên đi vào thế giới lao động nghề nghiệp, đặc biệt cho những ai chỉ có thể học hết bậc trung học.
Từ những năm 70 của thế kỷ 20 đến nay, ở nước ta đã có nhiều công trình nghiên cứu về dạy kỹ thuật, giáo dục nghề nghiệp cho HSPT, điển hình là các tác giả Phạm Tất Dong, Nguyễn Minh Đường, Đặng Danh Ánh, Phan Văn Kha, Nguyễn Đức Trí, Trần Khánh Đức. Điển hình như bài: “Một số giải pháp tổ chức hoạt động dạy học kĩ thuật ứng dụng (NPT) cho học sinh bậc TH tại các trung tâm KTTH- HN- DN” của tác giả Hà Thế Truyền. Từ việc tổng quan các công trình nghiên cứu tiêu biểu và từ kinh nghiệm thực tiễn về giáo dục nghề nghiệp cho HSPT cho thấy: DHNPT không chỉ cung cấp cho HS có kiến thức, mà còn phải thực hành để có tay nghề, vào đời có thể lao động được ngay, không bỡ ngỡ; phát triển GD gắn liền với phát triển KT-XH; nội dung, hình thức tổ chức GD nghề nghiệp cho HSPT có sự khác nhau, nhưng nhìn chung đều coi đây là giai đoạn GD “tiền nghề nghiệp” hết sức quan trọng đối với sự thành đạt của mỗi HS và với KT-XH. Luận văn rút ra kết luận như sau: các công trình nghiên cứu đã thể hiện quan điểm GD của Đảng: Học đi đôi với hành, GD kết hợp với lao động sản xuất - Nhà trường gắn liền với xã hội; chắt lọc những thành quả nghiên cứu ở nước ngoài để áp dụng một cách sáng tạo vào thực tiễn GD Việt Nam, đặc biệt là việc xây dựng và phát triển hệ thống trung tâm GDKTTH.
Đó là những cơ sở ban đầu rất quan trọng để học sinh tiếp tục vào học tại các trường nghề. Hình thành kỹ năng nghề nghiệp, phát huy sáng tạo thành thời gian lao động tư duy. Trung tâm GDKTTH là đơn vị GD thuộc bậc PTTH trong hệ thống giáo dục quốc dân, góp phần tạo nền tảng vững chắc để phát triển nguồn nhân lực, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước. Những nghiên cứu về quản lý hoạt động DHNPT nói chung và ở Trung tâm GDKTTH nói riêng Song song với những nghiên cứu khoa học về hoạt động DHNPT, trong những năm qua cũng có nhiều nghiên cứu về quản lý hoạt động DHNPT nói chung, về quản lý hoạt động DHNPT ở Trung tâm GDKTTH nói riêng.
Nổi bật trong các nghiên cứu khoa học, có liên quan tới hướng nghiên cứu của đề tài phải kể đến: “Một số 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nét đổi mới công tác QL tại Trung tâm KTTH-HN Dạy nghề Phan Rang - Ninh Thuận”, tạp chí KHGD, tác giả Bùi Đức Tú (2006), viện Chiến lược và Chương trình GD, Bộ GD&ĐT; “Công tác dạy NPT- Thực trạng và giải pháp QL”, tạp chí KHGD, tác giả Bùi Đức Tú (2007), viện Chiến lược và Chương trình GD, Bộ GD&ĐT; “Biện pháp QL hoạt động DHNPT tại trung tâm GDKTTH-HN Hải Phòng”, luận văn Thạc sĩ QLGD, tác giả Vũ Văn Ngôn (2009); “Một số biện pháp chỉ đạo, quản lý có hiệu quả hoạt động DHNPT tại trung tâm GDKTTH-HN Ngũ Điền”, SKKN của tác giả Lê Quang Đại, Giám đốc trung tâm GDKTTH-HN Ngũ Điền (2014)… Tuy nhiên trong đề tài “Quản lý hoạt động DHNPT ở Trung tâm GDKTTH số 5 Hà Nội trong giai đoạn hiện nay” chúng tôi muốn đi sâu vào công tác QL hoạt động DHNPT ở đơn vị chúng tôi và từ đó đề xuất một số biện pháp QL, nhằm nâng cao chất lượng DHNPT cho HSPT tại cơ sở GD của mình và có thể áp dụng được cho các Trung tâm GDKTTH khác trên địa bàn thành phố Hà Nội. Trung tâm GDKTTH 1. Khái niệm trung tâm GDKTTH *GDKTTH: Giáo dục kỹ thuật tổng hợp (GDKTTH) Theo K.