Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu về đào tạo trực tuyến và quản lý ĐTTT Chương 2: Cơ sở lý luận về đào tạo trực tuyến và quản lý ĐTTT Chương 3: Kết quả nghiên cứu thực tiễn về quản lý ĐTTT tại các trường đại học ở Việt Nam Chương 4: Giải pháp quản lý ĐTTT tại các trường đại học Việt Nam hiện nay. 6 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ QUẢN LÝ ĐÀO TẠO TRỰC TUYẾN Ở CÁC TRƢỜNG ĐẠI HỌC 1. Tình hình nghiên cứu về đào tạo trực tuyến 1. Trên thế giới Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của CNTT, đến nay ĐTTT đã trở thành xu thế tất yếu của thời đại.
ĐTTT mang nhiều ưu điểm, lợi ích vượt trội trong hoạt động giảng dạy bởi nó giúp người dạy và người học đạt được những kỹ năng cần thiết cho công việc ở thế k XXI. Vì vậy, nhiều học giả và các tổ chức đã quan tâm nghiên cứu cũng như tiến hành triển khai ĐTTT trên các giác độ, phạm vi khác nhau. - Về phương pháp luận và nội hàm cho ĐTTT: ĐTTT được coi là chính thức khởi nguồn từ năm 1963. Belawati và Baggaley (2010) đã nêu ra nguyên lý “giáo dục phải được mở cho tất cả mọi người”, nhấn mạnh sự linh hoạt và mềm dẻo của hệ thống giáo dục - đào tạo trực tuyến, giảm thiểu các rào cản xuất phát từ tuổi tác, vị trí địa lý, thời gian và tình trạng tài chính [53].
Sự phát triển của ĐTTT được chi phối bởi triết lý giáo dục rằng việc sử dụng tài liệu dạy học được tiêu chuẩn hóa và chuẩn bị trước nhằm giúp đạt được lợi ích kinh tế do quy mô đem lại. Điều này nhấn mạnh tính tự chủ của người học. Khi hệ thống học liệu đa phương tiện được chuẩn bị sẵn thì người học có thể chủ động quá trình học tập cho phù hợp với thời gian và điều kiện tài chính của mình [85]. Để xác định nội hàm ĐTTT, nhiều quan điểm đã đưa ra các nhận định dưới các góc nhìn khác nhau.
Resta và Patru (2010) cho rằng ĐTTT là hình thức học tập bằng truyền thông qua mạng Internet theo cách tương tác với nội dung học tập và được thiết kế dựa trên nền tảng phương pháp dạy học [91]. Như vậy, các quan điểm này cho rằng tất cả những gì được gọi là ĐTTT đều phải liên quan tới CNTT, mạng Internet và máy tính. Tuy nhiên, theo Resta và Patru (2010), ngoài yếu tố công nghệ thì còn có một yếu tố nền tảng khác, đó chính là phương pháp dạy học được sử dụng trong quá trình thiết kế và triển khai các hoạt động dạy học qua ĐTTT. Cụ thể hơn, Karl (2001) cho rằng ĐTTT là việc giảng dạy trong môi trường học tập mà người dạy và người học có sự 7 cách biệt về thời gian hay không gian, hoặc cả hai.
Người dạy cung cấp nội dung khóa học thông qua các ứng dụng quản lý học tập (LMS, LCMS), các nguồn tài nguyên đa phương tiện, mạng Internet, hội thảo trực tuyến…, còn người học nhận nội dung khóa học và tương tác với người dạy thông qua cùng các phương tiện kỹ thuật đó [77]. Theo Elliott và Healy (2001), ĐTTT là “việc áp dụng công nghệ để tạo ra, cung cấp, chọn lựa, quản trị, hỗ trợ và mở rộng cách học truyền thống” [65]. Việc phát triển của Internet, cùng với khả năng giúp người học tiếp cận liên tục các khóa đào tạo một cách hiệu quả và tiết kiệm, đã tạo nên một thời kỳ mới cho việc dạy và học đạt đến những tầm cao mới mà chưa có công nghệ nào có thể sánh được. Cùng với sự phát triển không ngừng của CNTT, ĐTTT đã được triển khai tại nhiều trường đại học trên thế giới, các tiêu chuẩn công nghệ mới được áp dụng nhằm tiếp cận với những cơ hội giáo dục và đào tạo mới.
Theo tổng kết của Taylor (2001), các hoạt động ĐTTT đã trải qua 5 thế hệ công nghệ, đó là: (i) Mô hình học hàm thụ: Mô hình này tương tác dựa trên công nghệ in ấn, tài liệu được gửi đến sinh viên qua đường bưu điện, tương tác giữa người dạy và sinh viên gặp rào cản về thời gian, vị trí địa lý và tốc độ học tập. (ii) Mô hình tương tác đa phương tiện dựa trên công nghệ in ấn, âm thanh và video. Mô hình này làm giàu thêm kinh nghiệm học tập cho người học, nhưng sự tương tác giữa người học và người dạy vẫn phụ thuộc vào thư từ và điện thoại. (iii) Mô hình tương tác qua CNTT dựa trên các ứng dụng của công nghệ viễn thông để đào tạo.
Mô hình này bị hạn chế về thời gian, địa điểm và tốc độ đường truyền thông tin. (iv) Mô hình học tập linh hoạt dựa trên giao diện Website trực tuyến qua Internet và Website toàn cầu (www), với một loạt các giải pháp tạo thuận lợi cho sự tương tác giữa người dạy – người học, người học – người học thông qua email, diễn đàn trao đổi và các phương tiện truyền thông đa phương tiện. (v) Mô hình học tập linh hoạt thông minh, thừa hưởng tất cả các giải pháp của mô hình thế hệ thứ tư và bổ sung giải pháp tương tác truyền thông đa phương tiện hai chiều và hệ thống trả lời tự động, áp dụng phương thức học tập với nguồn lực được chia sẻ trên toàn cầu. Với mô hình này, ĐTTT trở nên hoàn thiện hơn với chi phí tối thiểu, không bị hạn chế về điều kiện kinh tế, mang lại hiệu quả cao [99].
Theo Belawati và Baggaley (2010), ĐTTT được xem như một phương thức giáo dục thích hợp cho việc theo đuổi sự nghiệp học tập của cá nhân, phát triển kỹ năng chuyên nghiệp và thỏa mãn nhu cầu học tập. Ở phần lớn các quốc gia có tổ 8 chức hình thức ĐTTT, hình thức này chủ yếu dành cơ hội thứ hai cho những người không có cơ hội theo đuổi hình thức học tập truyền thống “mặt đối mặt”. Yếu tố lợi thế của ĐTTT là giảm thiểu các rào cản về thời gian, địa điểm, tuổi tác, điều kiện kinh tế và trình độ đầu vào. Khái niệm “học tập suốt đời và giáo dục cho mọi người” được UNESCO công nhận chính là nội hàm của khái niệm về ĐTTT.
Theo Verduin và Clark (1991), ĐTTT là một hình thức học tập trong đó có sự giãn cách về thời gian và không gian giữa người học và người dạy [102]. Với sự phát triển không ngừng của khoa học công nghệ, người học có thể sử dụng nhiều hình thức khác nhau thông qua các phương tiện truyền thông khác nhau để đạt được mục đích học tập của mình. Theo quan điểm về lý thuyết phát triển ĐTTT của Moore và Anderson (2003), ĐTTT thiên về sự độc lập và tự chủ trong học tập, với bốn thành tố cơ bản trong mọi tình huống giảng dạy và học tập, đó là: người dạy, người học, hệ thống truyền tải kiến thức và nội dung học tập. Các chương trình ĐTTT dựa trên hai biến “cấu trúc” và “đối thoại” để phân loại, trong đó thiết kế khóa học và các phương tiện truyền đạt kiến thức là biến cấu trúc, còn mối quan hệ giữa người dạy và người học, giữa người học với người học là biến “đối thoại”.
Ở đây, khái niệm độc lập và tự chủ trong học tập được nhấn mạnh như là tính chất đặc thù cá nhân nhằm giúp người học đạt được mục tiêu học tập. - Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra những lợi ích của ĐTTT: Sự phát triển của công nghệ và Internet không chỉ có tiềm năng thay đổi cách thức tiếp cận tri thức mà còn làm chuyển đổi và tái cơ cấu các mô hình giáo dục đại học truyền thống. Trong khi đó, Urdan và Weggen (2000) gợi ý rằng ĐTTT có thể dẫn đến t lệ duy trì cao hơn do các tài liệu được cá nhân hóa và phản ánh các kiểu học khác nhau. Các nhà giáo dục truyền thống có xu hướng bỏ qua ĐTTT, xem nó như là một công cụ đào tạo, không phản ánh môi trường học tập của một lớp học truyền thống khuyến khích sự tranh luận, thảo luận và học tập tương tác.
Tuy nhiên, sự phát triển của các công cụ học tập trực tuyến đang tạo cơ hội cho các yếu tố này xuất hiện và ĐTTT đang phát triển thành một lớp học ảo [100]. 9 Theo Adlakha và cộng sự (2011), việc sử dụng Internet để cung cấp các sáng kiến ĐTTT đã tạo ra những kỳ vọng trong thị trường kinh doanh và trong các tổ chức giáo dục đại học. ĐTTT đã giúp các trường đại học mở rộng phạm vi tiếp cận địa lý hiện tại để trở thành những nhà cung cấp dịch vụ giáo dục toàn cầu. Với các lợi thế trong học tập như: Khóa học có thể được sắp xếp phù hợp với cá nhân và công việc chuyên môn, giảm chi phí và thời gian đi lại, người học có thể tùy chọn khóa học phù hợp mức độ kiến thức và mối quan tâm của họ, người học có thể học bất cứ nơi nào họ có thể truy cập vào máy tính và Internet, các hoạt động học tập đa dạng, người học phát triển các kỹ năng về máy tính và Internet, xây dựng sự tự tin và độc lập, khuyến khích người học chịu trách nhiệm về việc học tập của họ, ĐTTT được khẳng định đóng vai trò quan trọng trong việc học tập suốt đời và giáo dục toàn cầu [46].
Theo dự đoán của Nicholson (1998), trong thế k XXI, các tổ chức giáo dục, đặc biệt là các trường đại học sẽ có sự phát triển hoàn toàn khác so với các tổ chức tiền thân. Thay vì chỉ đào tạo một nhóm nhỏ sinh viên, các trường sẽ tổ chức theo một quy mô rộng lớn hơn, với khoảng cách lớn hơn, thậm chí đào tạo theo số lượng lớn trên toàn thế giới [87]. ĐTTT cũng phải đối mặt với những thách thức nhất định, đặc biệt là kỹ năng sử dụng CNTT của giảng viên và sinh viên. Nhiều tác giả đã chỉ ra sự cần thiết phải chuẩn bị cho người dạy và người học kỹ năng sử dụng Internet, CNTTđể truy cập vào các web site tốt, tìm kiếm các thông tin có giá trị, và phát triển kỹ năng quản lý tri thức, kỹ năng dạy và học.
Theo Pettigrew và Elliott (1999), có một số nguyên tắc cần lưu ý trong việc đào tạo kỹ năng sử dụng CNTT cho sinh viên trong quá trình ĐTTT, đó là: linh hoạt, sử dụng thường xuyên và tự tin, tài liệu học tập đa dạng và cập nhật. Linh hoạt là khả năng xoay sở để thích nghi với sự khác biệt về phần cứng 10 hay các phiên bản phần mềm được trang bị khác nhau giữa học đường và nơi làm việc.