mở đầu của một chu trình ngân sách. Lập dự toán sẽ giúp chủ thể quản lý chủ động trong phân bổ và sử dụng các nguồn lực tài chính. Đối với chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục, lập dự toán còn là căn cứ quan trọng để quản lý và kiểm soát các khoản chi trong quá trình điều hành Ngân sách. Ngoài ra, quản lý theo dự toán cũng là cơ sở để đảm bảo cân đối ngân sách, tạo điều kiện chấp hành ngân sách.
Tuy nhiên, để nguyên tắc này phát huy tác dụng thì việc lập dự toán từ các đơn vị, trường học thụ hưởng ngân sách phải khoa học, định mức và chính sách chế độ phải phù hợp với từng nhiệm vụ chi. 12 * Nguyên tắc đầy đủ, trọn vẹn Nguyên tắc quản lý ngân sách quan trọng nhất đó là quản lý phải đầy đủ, toàn diện và trọn vẹn. Mọi khoản thu, mọi khoản chi phải được ghi đầy đủ vào kế hoạch NSNN. Chỉ có kế hoạch ngân sách đầy đủ trọn vẹn mới phản ánh đúng mục đích chính sách và tính công minh của các khoản thu, chi; mọi khoản thu chi ngân sách phải được vào sổ sách kế toàn và được quyết toán rành mạch.
Cũng theo nguyên tắc này, mọi khoản chi chỉ có hiệu lực thi hành khi có trong dự toán được cấp có thẩm quyền phê chuẩn và phải chi đúng mục đích. Những khoản chi ngoài hoặc vượt dự toán phải được xử lý theo đúng quy định của pháp luật. Nguyên tắc này nghiêm cấm các cấp, các tổ chức nhà nước lập và sử dụng quỹ đen. Điều này có nghĩa rằng, mọi khoản thu chi NSNN đều phải đưa vào kế hoạch ngân sách để Quốc hội phê chuẩn.
* Nguyên tắc thống nhất Nguyên tắc này đòi hỏi tất cả các khoản thu (bất luận từ đâu tới), khoản chi (bất luận lấy từ khoản chi nào) của một cấp hành chính đều phải đưa vào một kế hoạch ngân sách thống nhất theo một thể chế chính sách thống nhất. Một ngân sách gọi là thống nhất phải bao gồm tất cả các khoản thu và chi phản ánh một các toàn diện, đầy đủ hoạt động của chính quyền. * Nguyên tắc cân đối ngân sách Nguyên tắc này đòi hỏi số thu ngân sách phải bằng số chi ngân sách. Các khoản chi chỉ được thực hiện khi đã có đủ các nguồn thu bù đắp.
Tuy nhiên, trong thực tiễn các nước, có thể xảy ra thâm hụt ngân sách do nhu cầu chi vượt quá khả năng thu. Đây là cơ sở để học thuyết Keynes tạo cơ sở lý luận cho nhà nước can thiệp vào nền kinh tế thông qua chính sách tài khoá “cởi mở” tác động vào tổng cầu của nền kinh tế để kích thích tăng trưởng. Tất nhiên, bội chi ngân sách phải ở giới hạn cho phép, chấp nhận được và vấn đề cơ bản là phải có biện pháp xử lý hợp lý để hạn chế lạm phát do bội chi ngân sách. 13 * Nguyên tắc công khai hoá Về phương diện chính sách thu chi, NSNN là một chương trình của chính quyền được cụ thể hoá bằng các số liệu.
NSNN phải được quản lý rành mạch, công khai để mọi người dân đều có thể biết nếu họ quan tâm. Nguyên tắc công khai của NSNN được thể hiện trong suốt chu trình ngân sách (lập, chấp hành, quyết toán ngân sách) và phải được áp dụng cho tất cả các cơ quan tham gia vào chu trình NSNN. Nhà nước thể chế hoá việc công khai NSNN. * Nguyên tắc rõ ràng, trung thực, chính xác Để đảm bảo được sự thống nhất, minh bạch, đầy đủ và trọn vẹn của NSNN đòi hỏi phải quản lý ngân sách rõ ràng, trung thực, chính xác.
Tức là, dự toán thu chi ngân sách chính xác và được xây dựng rành mạch, có hệ thống, không có những sai phạm đối với các khoản thu, chi; không có quỹ ngoài ngân sách từ các khoản thu của ngân sách. * Nguyên tắc đảm bảo chi trả trực tiếp qua KBNN Với chức năng quản lý quỹ NSNN, KBNN kiểm soát mọi khoản chi ngân sách và có quyền từ chối thanh toán các khoản chi không đúng quy định, không phù hợp với chế độ. Hiện nay, các đơn vị dự toán phải mở tài khoản tại KBNN. Mọi khoản thanh toán đều phải có kiểm soát chi từ trước khi có nguồn vốn ngân sách được thanh toán chi trả.
Như vậy, quản lý chi thường xuyên NSNN phải nhằm đảm bảo các mục tiêu đó là: Chi đúng định mức, chi đúng chế độ, thực hiện tiết kiệm và có hiệu quả khi thực hiện chi (Đồng Thị Vân Hồng, 2010).3 Quy trình quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo công lập Quy trình quản lý chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp GD&ĐT công lập cũng giống như quy trình quản lý NSNN nói chung, bao gồm 03 bước cơ bản sau: lập dự toán chi, chấp hành dự toán chi và quyết toán chi. Có thể tổng hợp quy trình quản lý chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp GD&ĐT công lập qua hình sau: 14 Lập dự toán Chấp hành Quyết toán chi dự toán chi chi Hình 1.1: Quy trình quản lý chi thƣờng xuyên NSNN cho sự nghiệp GD&ĐT công lập (Nguồn: Tác giả tự tổng hợp) Có thể tóm tắt nội dung của 3 bước trong quy trình quản lý chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp GD&ĐT công lập như sau: Bước 1: Lập dự toán chi Đây là quá trình phân tích, đánh giá, tổng hợp, lập dự toán nhằm xác định các chỉ tiêu về chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp GD&ĐT công lập có thể đạt được trong năm ngân sách. Đồng thời xác định các biện pháp chủ yếu về kinh tế - tài chính để đảm bảo thực hiện tốt các chỉ tiêu về chi ngân sách đã định ra. Bước 2: Chấp hành dự toán chi Đây là quá trình sử dụng tổng hợp các biện pháp kinh tế, tài chính và hành chính nhằm biến các chỉ tiêu chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp GD&ĐT công lập ghi trong dự toán NSNN năm trở thành hiện thực.
Bước 3: Quyết toán chi Đây là giai đoạn cuối cùng của một chu trình quản lý NSNN. Mục đích của quyết toán chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp GD&ĐT công lập đó là tổng kết, đánh giá lại toàn bộ quá trình chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp GD&ĐT công lập trong một năm ngân sách. Quyêt toán NSNN sẽ cung cấp đầy đủ thông tin về quản lý điều hành chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp GD&ĐT công lập cho các cơ quan có thẩm quyền như: Quốc hội, Chính phủ, HĐND, các nhà tài trợ, người dân,… Từ đó rút ra những ưu điểm, nhược điểm và các bài học kinh nghiệm cho chu trình NSNN tiếp theo. Công cụ quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo công lập a.
Công cụ kế hoạch ngân sách nhà nước Kế hoạch ngân sách nhà nước là một bộ phận trong hệ thống kế hoạch phát triển kinh tế. Nó xác định các mục tiêu, chỉ tiêu về thu, chi NSNN tương ứng với các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển KT-XH trong thời kỳ kế hoạch, đồng thời chỉ ra các giải pháp, chính sách cần thiết nhằm cải thiện cán cân ngân sách. Ngoài ra, kế hoạch ngân sách còn bao gồm việc xác định các chính sách tài chính nhằm cải thiện cán cân ngân sách và khắc phục tình trạng thâm hụt ngân sách. Hệ thống kế hoạch NSNN hiện nay ở Việt Nam bao gồm các kế hoạch 05 năm, kế hoạch 03 năm và ngân sách hằng năm.
Trong đó: (1) Kế hoạch tài chính 05 năm là kế hoạch tài chính để thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ của kế hoạch phát triển KT-XH của quốc gia, địa phương trong giai đoạn 05 năm kế hoạch; Đưa ra các mục tiêu, chỉ tiêu cơ bản về tài chính - NSNN trong thời gian 05 năm kế hoạch; giữ vai trò định hướng cho kế hoạch tài chính - NSNN 03 năm và dự toán NSNN hằng năm. (2) Kế hoạch tài chính - NSNN 03 năm được lập hằng năm để triển khai kế hoạch tài chính 05 năm, thể hiện những nội dung lớn về khung cân đối NSNN và trần chi ngân sách cho các bộ, cơ quan, đơn vị và địa phương trong thời gian 03 năm, có tính đến diễn biến tình hình KT-XH và tài chính - ngân sách hiện tại và cập nhật dự báo trong thời gian 03 năm kế hoạch, làm cơ sở cho việc lập, xem xét, quyết định dự toán NSNN hằng năm. (3) Dự toán NSNN hằng năm cụ thể hóa định hướng chiến lược của kế hoạch tài chính 05 năm, mục tiêu và nhiệm vụ của kế hoạch tài chính - NSNN 03 năm, có các chỉ tiêu cơ bản trùng với chỉ tiêu năm thứ nhất của kế hoạch tài chính - NSNN 03 năm. Công cụ pháp luật về quản lý ngân sách nhà nước Hệ thống pháp luật về quản lý NSNN được sử dụng để quản lý và điều hành các hoạt động quản lý NSNN được xem như một loại công cụ quản lý có vai trò đặc biệt quan trọng.
Công cụ pháp luật được sử dụng thể hiện dưới các dạng cụ thể là 16 các chính sách, cơ chế quản lý tài chính, các chế độ quản lý tài chính, kế toán, thống kê, các định mức, tiêu chuẩn về tài chính, mục lục ngân sách nhà nước… Để giữ nghiêm kỷ luật ngân sách, các đơn vị sử dụng ngân sách không chỉ tuân thủ pháp luật về quản lý ngân sách, mà còn phải tuân thủ đầy đủ quy định trong các lĩnh vực thường gây thất thoát, lãng phí lớn cho NSNN (những lĩnh vực nhiều rủi ro). Quốc hội ban hành ban hành các luật về quản lý NSNN: Luật NSNN, Luật Kiểm toán Nhà nước, Luật Thanh tra, Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí,… trong đó đã đặt ra các quy định tăng cường trách nhiệm của các ngành, các cấp và các đơn vị trong quản lý, sử dụng NSNN chặt chẽ, tiết kiệm. Đặc biệt, Luật NSNN năm 2015 đã có những quy định mới về phạm vi thu, chi, bội chi; quy định rõ về thẩm quyền điều chỉnh dự toán, công khai minh bạch, giám sát của cộng đồng. Quốc hội, Chính phủ, Bộ Tài chính quán triệt yêu cầu tăng cường kỷ cương, kỷ luật trong thu ngân sách, chống thất thu, giảm nợ đọng thuế; chi NSNN chặt chẽ theo phạm vi dự toán, đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi.
Đồng thời, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, tăng cường trách nhiệm của người đứng đầu trong việc nâng cao hiệu quả sử dụng, quản lý ngân sách, tài sản công được giao.