Chương 1: Cơ sở khoa học về quản lý chi ngân sách nhà nước Chương 2: Thực trạng quản lý chi ngân sách tại Quận 6, TP.HCM Chương 3: Định hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý chi ngân sách tại Quận 6, TP. HCM 7 Chƣơng 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC 1. Những vấn đề chung về chi ngân sách nhà nƣớc 1. Khái niệm và phân loại chi ngân sách nhà nƣớc 1.
Khái niệm ngân sách nhà nƣớc Tài chính nhà nước là một phạm trù kinh tế lịch sử gắn liền với sự ra đời của nhà nước và nền kinh tế hàng hóa tiền tệ. Nhà nước sử dụng quyền lực của mình tham gia vào quá trình phân phối sản phẩm xã hội dưới hình thức tiền tệ như thuế bằng tiền, vay nợ,…để phục vụ cho hoạt động của mình, hình thành nên ngân sách nhà nước, bộ phận quan trọng nhất của khu vực tài chính nhà nước. Tuy nhiên thuật ngữ NSNN chỉ thực sự xuất hiện khi nền sản xuất xã hội phát triển đến một giai đoạn nhất định, đó là khi phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa ra đời. Lúc này, các khoản thu, chi của nhà nước được thể chế hóa bằng luật pháp, tách việc thực hiện quyền lập pháp về NSNN thuộc về nghị viện và quyền hành pháp về NSNN giao cho chính phủ điều hành.
Căn cứ vào biểu hiện bề ngoài thì NSNN là một bảng dự toán thu chi của nhà nước trong một khoảng thời gian nhất định, thường là một năm hoặc một số năm. Hàng năm, chính phủ dự toán các nguồn thu vào quỹ NSNN, đồng thời dự toán các khoản chi cho sự nghiệp kinh tế, chính trị, an ninh quốc phòng, quản lý hành chính,…từ quỹ NSNN và dự toán này phải được Quốc hội phê chuẩn. Trong thực tiễn, hoạt động NSNN là hoạt động tạo lập và sử dụng quỹ tiền tệ của nhà nước. Trong quá trình phân phối tổng sản phẩm xã hội, nguồn tài chính luôn vận động giữa một bên là nhà nước và bên kia là các chủ thể kinh tế xã hội.
Thông qua việc tạo lập, sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước mà một bộ phận thu nhập bằng tiền của các chủ thể đó chuyển thành thu nhập của nhà nước và nhà 8 nước chuyển dịch các thu nhập đó đến các chủ thể được thụ hưởng theo yêu cầu thực hiện chức năng, nhiệm vụ của nhà nước. Điều 4, Khoản 14, Luật NSNN được Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua năm 2015 quy định: “Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước”. Khái niệm chi ngân sách nhà nƣớc Theo giáo trình Quản lý tài chính công (Học viện Tài chính, 2010) thì: “Chi NSNN là việc nhà nước phân phối và sử dụng quỹ NSNN nhằm đảm bảo điều kiện vật chất để duy trì sự hoạt động và thực hiện chức năng của nhà nước và đáp ứng nhu cầu đời sống kinh tế xã hội theo các nguyên tắc nhất định”. Như vậy, phạm vi chi ngân sách nhà nước là rất rộng, bao trùm mọi lĩnh vực đời sống, liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến mọi đối tượng.
Dưới góc độ kinh tế, chi NSNN là nguồn lực chủ yếu để tạo ra hàng hóa, dịch vụ công nhằm giải quyết những vấn đề quan trọng mà khu vực tư nhân không muốn làm hoặc không có khả năng làm được. Hay nói cách khác, chi NSNN phản ánh giá trị của các hàng hóa mà chính phủ mua vào để qua đó cung cấp các loại hàng hóa công cho xã hội nhằm thực hiện các chức năng của nhà nước. Phân loại chi ngân sách nhà nƣớc Hệ thống chi NSNN rất đa dạng, phong phú và luôn biến động theo tình hình kinh tế xã hội và chính trị. Nhằm phân tích đánh giá quản lý và định hướng các khoản chi, người ta tiến hành phân loại các khoản chi NSNN theo những tiêu thức khác nhau.
Phân loại các khoản chi NSNN là việc sắp xếp các khoản chi NSNN có cùng tính chất, cùng mục đích thành các loại chi. Có nhiều tiêu thức để phân loại các 9 khoản chi NSNN theo những mục tiêu quản lý nhất định, ở đây chỉ nêu một số tiêu thức chủ yếu. - Căn cứ vào chức năng quản lý của nhà nước, NSNN được chi cho các hoạt động: chi xây dựng cơ sở hạ tầng, cho hệ thống giáo dục, chi cho hệ thống an sinh xã hội, hệ thống quản lý nhà nước, chi cho hệ thống quân đội và an ninh, chi khác. - Căn cứ theo tính chất kinh tế phân thành hai loại là chi thường xuyên và chi đầu tư phát triển.
- Căn cứ quy trình lập ngân sách, chi ngân sách được phân ra thành chi theo các yếu tố đầu vào (mua tài sản, chi tiền lương và các khoản phụ cấp, chi bằng tiền khác) và chi theo yếu tố đầu ra (chi ngân sách dựa vào khối lượng công việc đầu ra và kết quả tác động đến mục tiêu hoạt động của đơn vị). - Theo Điều 5 của Luật NSNN năm 2015, chi NSNN bao gồm: chi đầu tư phát triển, chi dự trữ quốc gia, chi thường xuyên, chi trả nợ lãi, chi viện trợ và các khoản chi khác theo quy định của pháp luật (chi chuyển nguồn ngân sách sang năm sau; chi bổ sung cân đối ngân sách, bổ sung có mục tiêu từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới, chi cho vay, chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính, chi viện trợ,…). Đặc điểm của chi ngân sách nhà nƣớc Trong mỗi chế độ xã hội, mỗi giai đoạn lịch sử, chi NSNN có những nội dung cơ cấu khác nhau, song chúng có những đặc điểm chung. Có thể khái quát những đặc điểm chung đó trên những khía cạnh chủ yếu sau đây: - Chi NSNN được quản lý bằng pháp luật và theo dự toán, đây là đặc điểm quan trọng nhất, nhìn nhận và đánh giá đúng đặc điểm này giúp nhà nước đưa ra các cơ chế quản lý, điều hành chi ngân sách đúng luật, đảm bảo hiệu quả, công khai, minh bạch.
- Quản lý chi NSNN sử dụng tổng hợp các biện pháp mà quan trọng nhất là biện pháp tổ chức hành chính. 10 - Chi NSNN gắn chặt với bộ máy nhà nước và những nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội mà nhà nước đảm đương trước mỗi quốc gia. Nhà nước với bộ máy càng lớn, đảm đương nhiều nhiệm vụ thì mức độ, phạm vi chi của NSNN càng lớn. - Cơ quan quyền lực cao nhất của nhà nước là chủ thể duy nhất quyết định cơ cấu, nội dung, mức độ các khoản chi của NSNN.
- Các khoản chi của NSNN mang tính chất không hoàn trả trực tiếp. - Thông thường, hiệu quả của các khoản chi ngân sách phải được xem xét toàn diện dựa vào việc hoàn thành các mục tiêu kinh tế xã hội mà các khoản chi ngân sách đảm nhiệm. Vai trò của chi ngân sách nhà nƣớc Cùng với tín dụng nhà nước và các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, NSNN là một bộ phận cấu thành của tài chính công. Trong đó NSNN là bộ phận cơ bản, quan trọng nhất.
Chi NSNN không chỉ đảm bảo nguồn lực tài chính cho hoạt động của bộ máy nhà nước để quản lý xã hội mà còn là công cụ để nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế và giải quyết các vấn đề xã hội. Thứ nhất, NSNN bảo đảm kinh phí hoạt động của bộ máy nhà nước bằng việc ban hành các chính sách chi cho bộ máy sao cho có sự phù hợp giữa quyền lợi và trách nhiệm, đảm bảo tái sản xuất sức lao động, tao cơ sở để xây dựng bộ máy hành chính trong sạch đồng thời đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính, giúp cho ngân sách được sử dụng minh bạch. Hệ thống chi hành chính trong cơ chế thị trường được kiểm soát chặt chẽ thông qua các công cụ quản lý như quản lý theo sản phẩm đầu ra đối với dịch vụ công do bộ máy nhà nước cung cấp; kế hoạch chi tiêu trung hạn; quản lý theo chương trình, dự án. Thứ hai, NSNN đảm bảo kinh phí để nhà nước thực hiện chức năng quản lý xã hội.
Thông qua hệ thống các chính sách, giải pháp, nhà nước quyết định cơ cấu chi, tác động đến sự phát triển của từng ngành, từng lĩnh vực, tạo môi trường cạnh tranh cho các thành phần kinh tế cùng cung cấp dịch vụ, đáp ứng nhu cầu ngày càng 11 phong phú và đòi hỏi chất lượng cao của người dân. NSNN đảm bảo tài trợ cho những dịch vụ mà khu vực tư nhân không muốn đảm nhận hoặc không đủ khả năng thực hiện. Thứ ba, Nhà nước sử dụng công cụ chi NSNN tác động vào việc phát triển nền kinh tế khi cần thiết như điều tiết thị trường, giải quyết các vấn đề về tăng trưởng, lạm phát, thất nghiệp, xóa đói giảm nghèo, đảm bảo công bằng xã hội, phát triển cân đối giữa các vùng, lãnh thổ, ngành kinh tế, cung cấp hàng hóa, dịch vụ công và giải quyết những vấn đề quan trọng trong tiến trình toàn cầu hóa. Khi kinh tế càng phát triển, nguồn ngân sách càng dồi dào thì chi NSNN càng có điều kiện để phát huy vai trò quan trọng của nó.
Chi ngân sách cấp huyện trong hệ thống ngân sách nhà nƣớc Ngân sách nhà nước ở Việt Nam gồm ngân sách trung ương và ngân sách địa phương. Ngân sách địa phương gồm ngân sách của các cấp chính quyền địa phương (Điều 6, Luật NSNN 2015), bao gồm ngân sách cấp tỉnh, ngân sách cấp huyện và ngân sách cấp xã. Ngân sách mỗi cấp được phân cấp nguồn thu và nhiệm vụ chi cụ thể. * Nguyên tắc phân cấp quản lý ngân sách nhƣ sau: (Điều 9, Luật NSNN 2015): (1) Ngân sách trung ương giữ vai trò chủ đạo, bảo đảm thực hiện các nhiệm vụ chi quốc gia, hỗ trợ địa phương chưa cân đối được ngân sách và hỗ trợ các địa phương theo quy định.
(2) Ngân sách địa phương được phân cấp nguồn thu đảm bảo chủ động thực hiện các nhiệm vụ chi được giao. HĐND cấp tỉnh quyết định việc phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi giữa các cấp ngân sách ở địa phương phù hợp với phân cấp quản lý kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và trình độ quản lý của mỗi cấp trên địa bàn.