Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số vấn đề cơ bản về chất thải y tế 1. Khái niệm và định nghĩa Chất thải nguy hại (CTNH) là chất thải chứa yếu tố độc hại, phóng xạ, lây nhiễm, dễ cháy, dễ nổ, gây ăn mòn, gây ngộ độc hoặc có đặc tính nguy hại khác [16]. Chất thải y tế là chất thải phát sinh trong quá trình hoạt động của các cơ sở y tế, bao gồm chất thải y tế nguy hại, chất thải y tế thông thường và nước thải y tế [3].
Chất thải y tế nguy hại là chất thải y tế chứa yếu tố lây nhiễm hoặc có đặc tính nguy hại khác vượt ngưỡng chất thải nguy hại, bao gồm chất thải lây nhiễm và chất thải nguy hại không lây nhiễm [3]. Quản lý chất thải y tế là quá trình giảm thiểu, phân định, phân loại, thu gom, lưu giữ, vận chuyển, tái chế, xử lý chất thải y tế và giám sát quá trình thực hiện [3]. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) CTYT là tất cả các loại chất thải phát sinh trong các CSYT, bao gồm cả các trung tâm nghiên cứu, phòng thí nghiệm và các hoạt động y tế tại nhà [28]. Trong Quy định QLCTYT của Bộ Y tế (BYT) CTYT được định nghĩa là tất cả vật chất ở thể rắn, lỏng, khí được thải ra từ các CSYT, bao gồm chất thải thông thường và CTYTNH [3].
Chất thải y tế nguy hại (CTYTNH): Là CTYT chứa yếu tố vượt ngưỡng nguy hại cho sức khỏe con người và môi trường như dễ lây nhiễm, gây ngộ độc, phóng xạ, dễ cháy, dễ nổ, dễ ăn mòn hoặc có đặc tính nguy hại khác nếu những chất thải này không được tiêu hủy an toàn [3]. Chất thải y tế nguy hại thường chiếm từ 10-25% tổng luợng CTYT [28]. Danh mục CTNH áp dụng theo danh mục CTNH ban hành kèm theo Thông tư 36/2015/TT-BTNMT ngày 30/6/2015 về Quản lý CTNH [34]. Chất thải y tế thông thường: Là chất thải có chứa thành phần và tính chất tương tự như chất thải sinh hoạt, không chứa các chất độc hại, các tác nhân gây bệnh đối với con người và môi trường.
Chất thải y tế thông thuờng chiếm từ 75- 90% tổng lượng CTYT [28]. 5 Quản lý chất thải y tế là quá trình giảm thiểu, phân định, phân loại, thu gom, lưu giữ, vận chuyển, tái chế, xử lý chất thải y tế và giám sát quá trình thực hiện [3]. Khối lượng chất thải rắn y tế phát sinh: Khối lượng CTYT phát sinh tại các CSYT thay đổi theo từng khu vực địa lý, theo mùa và phụ thuộc vào các yếu tố khác như: Thay đổi theo cơ cấu bệnh tật, dịch bệnh, quy mô bệnh viện, lượng bệnh nhân đến khám, chữa bệnh, tỷ lệ bệnh nhân nội và ngoại trú, phương pháp và thói quen của NVYT trong việc khám, điều trị và chăm sóc, số lượng người nhà đến thăm bệnh nhân…[7] Căn cứ vào Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống y tế Việt Nam giai đoạn đến năm 2010 tầm nhìn đến 2020; Quy hoạch mạng lưới khám chữa bệnh đến năm 2010 tầm nhìn đến năm 2020 và căn cứ vào các số liệu thống kê hàng năm, các nghiên cứu của Việt Nam và thế giới - Dự báo lượng chất thải rắn y tế nguy hại phát sinh trên địa bàn cả nước như sau [29]: Bảng 1. Lượng chất thải phát sinh tại Việt Nam dự báo đến 2025 [29] Khối lượng (kg/ngày) TT Vùng Năm 2015 Năm 2025 TOÀN QUỐC 50.991 1 Vùng đồng bằng sông Hồng 14.658 2 Vùng trung du và miền núi Bắc Bộ 4.648 3 Vùng Trung Bộ 9.989 4 Vùng Tây Nguyên 1.287 5 Vùng Đông Nam Bộ 12.632 6 Vùng đồng bằng sông Cửu Long 6.777 Nguồn: Thủ tướng Chính phủ (2012), Quyết định số 170/QĐ-TTg, ngày 08/02/2012, phê duyệt Quy hoạch tổng thể hệ thống xử lý chất thải rắn y tế nguy hại đến năm 2025.
Lượng chất thải rắn y tế phát sinh trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk năm 2015 Khối lượng CTRYT Stt Đơn vị phát sinh CTRYT (kg/ngày) 1 Các cơ sở khám chữa bệnh 4.816,6 2 Các cơ sở thuộc hệ dự phòng 91,5 4 Trạm y tế 561,2 Nguồn: Sở Y tế Đắk Lắk (2015), Tổng hợp báo cáo công tác quản lý chất thải y tế tỉnh Đắk Lắk, năm 2015 [25]. Quản lý chất thải rắn y tế Phân loại chất thải rắn theo Tổ chức Y tế thế giới [41]. 6 Nhìn chung có nhiều cách phân loại CTRYT theo các quan điểm khác nhau của các nhà quản lý, nhưng tất cả phân loại đều chỉ dựa vào tính chất vật lý, hóa học của chất thải và khả năng gây hại đến sức khỏe của con người và môi trường xung quanh. Theo WHO chất thải y tế được chia thành 8 loại: - Chất thải sắc nhọn: Có thể làm rách hoặc tổn thương da bao gồm: Bơm kim tiêm, dao mổ, bộ tiêm truyền… - Chất thải nhiễm trùng: Là chất thải có chứa mầm bệnh như vi khuẩn, vi-rút, ký sinh trùng với số lượng đủ để gây bệnh cho những người dễ bị cảm nhiễm, bao gồm các loại: + Rác từ phòng cách ly bệnh nhân bị nhiễm trùng; + Môi trường nuôi cấy từ phòng thí nghiệm; + Rác từ phòng mổ, nhất là phòng mổ tử thi và bệnh nhân bị nhiễm trùng; + Dụng cụ hoặc vật tiếp xúc với bệnh nhân bị truyền nhiễm; + Súc vật được tiêm, truyền trong phòng thí nghiệm.
- Chất thải có tính độc với tế bào: Có thể làm biến đổi gen, gây quái thai như các chất chống ung thư. - Thuốc thải chất thải dược phẩm: Bao gồm thuốc quá hạn, thuốc không dùng hoặc các loại vắc-xin, huyết thanh, kể cả chai, lọ đựng chúng… - Hóa chất: Có thể dưới dạng rắn, lỏng, khí, bao gồm: + Hóa chất độc; + Hóa chất có tính ăn mòn (PH< 2 hoặc PH> 12); + Hóa chất dễ gây nổ. - Rác chứa kim loại nặng, độc: Chất chứa kim loại như chì, thủy ngân, asen. - Các bình chứa khí nén: Được dùng trong y tế dưới dạng khí như oxy, khí gây mê.
- Chất phóng xạ: Không thể phát hiện bằng giác quan, chúng thường gây ảnh hưởng lâu dài (gây ion hóa tế bào) như tia X, tia alpha, tia Beta[41]. Một số văn bản pháp lý liên quan đến quản lý chất thải y tế: Luật Bảo vệ môi trường số 55/2014/QH13 của Quốc hội ngày 23 tháng 6 năm 2014; Luật phòng phống bệnh truyền nhiễm số 03 năm 2007/QH 12 7 Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày 24/4/2015 của Chính phủ quy định về quản lý chất thải và phế liệu Nghị định số 35/2014/NĐ-CP ngày 29 tháng 4 năm 2014 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 29/2011/NĐ-CP ngày 18 tháng 4 năm 2011 của Chính phủ quy định về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường, cam kết bảo vệ môi trường; Nghị định số 179/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 Quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường; Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT ngày 14/4/2011 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về quản lý chất thải nguy hại; Thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT của Bộ Y tế và Bộ tài nguyên và Môi trường, quy định về quản lý chất thải y tế 1. Quy định về Quản lý chất thải theo Thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT- BYT-BTNMT của Bộ Y tế và Bộ tài nguyên và Môi trường 1. Phân định chất thải y tế Chất thải lây nhiễm bao gồm: Chất thải lây nhiễm sắc nhọn là chất thải lây nhiễm có thể gây ra các vết cắt hoặc xuyên thủng; chất thải lây nhiễm không sắc nhọn; chất thải thấm, dính, chứa máu hoặc dịch sinh học của cơ thể; các chất thải phát sinh từ buồng bệnh cách ly; chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao; chất thải giải phẫu.
Chất thải nguy hại không lây nhiễm bao gồm: Hóa chất thải bỏ bao gồm hoặc có các thành phần nguy hại; dược phẩm thải bỏ thuộc nhóm gây độc tế bào hoặc có cảnh báo nguy hại từ nhà sản xuất; thiết bị y tế bị vỡ, hỏng, đã qua sử dụng thải bỏ có chứa thủy ngân và các kim loại nặng; chất hàn răng amalgam thải bỏ; chất thải nguy hại khác theo quy định tại Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT ngày 30 tháng 6 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường về quản lý chất thải nguy hại (sau đây gọi tắt là Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT). Chất thải y tế thông thường bao gồm: Chất thải rắn sinh hoạt phát sinh trong sinh hoạt thường ngày của con người và chất thải ngoại cảnh trong cơ sở y tế; chất thải rắn thông thường phát sinh từ cơ sở y tế không thuộc Danh mục chất thải y tế nguy 8 hại hoặc thuộc Danh mục chất thải y tế nguy hại quy định tại Điểm a Khoản 4 Điều này nhưng có yếu tố nguy hại dưới ngưỡng chất thải nguy hại; sản phẩm thải lỏng không nguy hại. Bao bì, dụng cụ, thiết bị lưu chứa chất thải y tế - Màu sắc: vàng, đen, xanh, trắng. Trong đó, màu vàng đựng chất thải lây nhiễm, màu đen đựng chất thải nguy hại không lây nhiễm, màu xanh đựng chất thải y tế thông thường, màu trắng đựng chất thải tái chế.
- Bảo đảm lưu chứa an toàn chất thải, có khả năng chống thấm và có kích thước phù hợp với lượng chất thải lưu chứa. Nếu bao bì, dụng cụ đựng chất thải y tế sử dụng phương pháp đốt không dùng nhựa PVC. Bên ngoài bao bì, dụng cụ, thiết bị lưu chứa đựng chất thải lưu chứa có biểu tượng nguy hại sinh học đối với túi màu vàng, biểu tượng có thể tái chế đối với túi màu trắng và biểu tượng nguy hại phù hợp với chất thải hóa học chứa bên trong túi màu đen. - Thùng, hộp đựng chất thải có nắp đóng, mở thuận tiện trong quá trình sử dụng; thùng, hộp đựng chất thải sắc nhọn phải có thành, đáy cứng không bị xuyên thủng.
Thùng, hộp đựng chất thải có thể tái sử dụng theo đúng mục đích lưu chứa sau khi đã được làm sạch và để khô. Phân loại chất thải y tế Nguyên tắc phân loại chất thải y tế: - Chất thải y tế nguy hại và chất thải y tế thông thường phải phân loại để quản lý ngay tại nơi phát sinh và tại thời điểm phát sinh. - Từng loại chất thải y tế phải phân loại riêng vào trong bao bì, dụng cụ, thiết bị lưu chứa chất thải theo quy định. Trường hợp các chất thải y tế nguy hại không có khả năng phản ứng, tương tác với nhau và áp dụng cùng một phương pháp xử lý có thể được phân loại chung vào cùng một bao bì, dụng cụ, thiết bị lưu chứa.