Chương 1. Tổng quan về chất thải nguy hại và pháp luật về quản lý chất thải nguy hại trong khu công nghiệp. Thực trạng pháp luật về quản lý chất thải nguy hại trong khu công nghiệp ở Việt Nam. Hoàn thiện pháp luật về quản lý chất thải nguy hại và nâng cao hiệu quả quản lý chất thải nguy hại trong khu công nghiệp ở Việt Nam.
5 z CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CHẤT THẢI NGUY HẠI VÀ PHÁP LUẬT QUẢN LÝ CHẤT THẢI NGUY HẠI TRONG KHU CÔNG NGHIỆP Ở VIỆT NAM 1.1 Tổng quan về chất thải nguy hại 1.1 Khái niệm chất thải nguy hại Khái niệm về thuật ngữ “chất thải nguy hại” (Hazardous Waste) lần đầu tiên xuất hiện vào thập niên 70 của thế kỷ trước tại các nước Âu - Mỹ, sau đó mở rộng ra nhiều quốc gia khác. Sau quá trình phát triển về khoa học công nghệ cũng như sự khác nhau trong quan điểm của mỗi quốc gia mà hiện nay trên thế giới có nhiều khái niệm khác nhau về chất thải nguy hại. Cụ thể: Chương trình môi trường Liên Hiệp Quốc (12/1985) có định nghĩa: ngoài chất thải phóng xạ và chất thải y tế, thì chất thải nguy hại là chất thải (dạng rắn, lỏng, bán rắn – semisolid, và các bình chứa khí) mà do hoạt tính hóa học, độc tính, nổ, ăn mòn hoặc các đặc tính khác, gây nguy hại hay có khả năng gây nguy hại đến sức khỏe con người hoặc môi trường bởi chính bản thân chúng hay khi được cho tiếp xúc với chất thải khác. Luật môi trường Canada năm 1999 [21] quy định “Chất thải nguy hại là những chất do bản chất và tính chất của chúng có khả năng gây nguy hại đến sức khỏe con người/hoặc môi trường.
Và những chất này yêu cầu các kỹ thuật xử lý đặc biệt để loại bỏ hoặc giảm đặc tính nguy hại của nó”. Luật RCRA (the Resource Conservation and Recovery Act 1976) của Hoa Kỳ định nghĩa: chất thải (dạng rắn, lỏng, bán rắn – semisolid, và các bình khí) có thể được coi là chất thải nguy hại khi đáp ứng các tiêu chí: - Thuộc danh mục chất thải nguy hại do EPA đưa ra (gồm 4 danh sách); - Có một trong bốn đặc tính (khi phân tích) do EPA đưa ra gồm: cháy – nổ; ăn mòn; phản ứng và độc tính; 6 z - Được chủ nguồn thải (hay nhà sản xuất) công bố là chất thải nguy hại. Pháp luật môi trường Philipin đưa ra khái niệm: chất thải nguy hại là những chất có độc tính, ăn mòn, gây kích thích, hoạt tính, có thể cháy, nổ mà gây nguy hiểm cho con người và động vật. Tại Việt Nam, khái niệm chất thải nguy hại lần đầu được đề cập trong Quy chế quản lý chất thải nguy hại ban hành theo Quyết định 155/1999/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, trong đó định nghĩa tại Khoản 2 Điều 3 như sau: “Chất thải nguy hại là chất thải có chứa các chất hoặc hợp chất có một trong các đặc tính gây nguy hại trực tiếp (dễ cháy, dễ nổ, làm ngộ độc, dễ ăn mòn, dễ lây nhiễm và các đặc tính gây nguy hại khác), hoặc tương tác với các chất khác gây nguy hại tới môi trường và sức khoẻ con người.
Danh mục các CTNH được ghi trong Phụ lục 1 kèm theo Quy chế này. Danh mục này do cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường cấp trung ương quy định”. Tới Luật Bảo vệ môi trường năm 2014, khái niệm chất thải nguy hại được rút gọn tại Khoản 13 Điều 3 như sau: “13. Chất thải nguy hại là chất thải chứa yếu tố độc hại, phóng xạ, lây nhiễm, dễ cháy, dễ nổ, gây ăn mòn, gây ngộ độc hoặc có đặc tính nguy hại khác.” Qua các định nghĩa trên, cho thấy sự đa dạng trong quan điểm xây dựng khái niệm về chất thải nguy hại tại mỗi quốc gia, tuy nhiên tựu chung lại gặp nhau ở các đặc tính của chất thải nguy hại (như cháy nổ; ăn mòn; độc tính) và trạng thái của chất thải (rắn; lỏng; bán rắn; khí) cũng như tác hại nguy hiểm của các chất thải này đối với con người.
Về đặc tính vật lý và nguồn gốc, cần lưu ý các chất thải nguy hại có thể ở dạng khí, lỏng, rắn được thải ra từ các cơ sở công nghiệp trong các dòng thải: khí thải, nước thải, rác thải, các chất độc hại có trong các sản phẩm sử dụng trong sinh hoạt: xăng, dầu, ắc quy, chất tẩy, sơn, thuốc trừ sâu. do người dân thải bỏ cùng với nước thải và rác thải gây ô nhiễm không khí, nước bề mặt, 7 z nước ngầm, gây ô nhiễm đất, gây tích tụ sinh học, gây cháy nổ làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới môi trường sinh thái và gây nguy hiểm cho sức khoẻ cộng đồng. Đặc biệt đối với chất thải nguy hại từ công nghiệp, các đặc tính này càng trở nên quan trọng, là cơ sở để phân loại chất thải nguy hại cụ thể: - Dễ nổ: Các chất thải ở thể rắn hoặc lỏng có thể nổ do kết quả của phản ứng hóa học khi tiếp xúc với lửa hoặc do bị va đập, ma sát sẽ tạo ra các loại khí ở nhiệt độ, áp suất và tốc độ gây thiệt hại cho môi trường xung quanh. Chính vì dễ nổ nên chúng có thể gây tổn thương da, bỏng và thậm chí là tử vong; phá hủy cô ng trình và thậm chí chết người.
- Dễ cháy: Chất thải lỏng có nhiệt độ bắt cháy thấp hơn 60 độ C, chất rắn có khả năng tự bốc cháy hoặc phát lửa do bị ma sát, hấp thu độ ẩm, do thay đổi hóa học tự phát trong các điều kiện bình thường, khí nén có thể cháy. Đặc tính dễ cháy sẽ gây ra hỏa hoạn, bỏng, làm ô nhiễm không khí và nguồn nước. - Ôxy hóa: Chất thải có khả năng nhanh chóng thực hiện phản ứng ôxy hóa tỏa nhiệt mạnh khi tiếp xúc với các chất khác, có thể gây ra hoặc góp phần đốt cháy các chất đó, sẽ gây ra cháy nổ, gây nhiễm độc nguồn nước và không khí. - Ăn mòn: Các chất hoặc hỗn hợp các chất có tính axít mạnh (pH bằng 2 hoặc nhỏ hơn 2), hoặc kiềm mạnh (pH bằng 12,5 hoặc lớn hơn 12,5).
Việc ăn mòn có thể gây cháy da, ảnh hưởng đến phổi và mắt, gây hư hại vật liệu công trình. - Có độc tính: Đầu tiên là độc tính cấp, các chất thải có thể gây tử vong, tổn thương nghiêm trọng hoặc có hại cho sức khỏe qua đường ăn uống, hô hấp hoặc qua da. Độc tính từ từ hoặc mạn tính, các chất thải có thể gây ra các ảnh hưởng từ từ hoặc mạn tính, kể cả gây ung thư, do ăn phải, hít thở phải hoặc ngấm qua da. Sinh khí độc, các chất thải chứa các thành phần mà khi 8 z tiếp xúc với không khí hoặc với nước sẽ giải phóng ra khí độc, gây nguy hiểm đến con người và sinh vật.
Đặc biệt là ô nhiễm nguồn nước nghiêm trọng. - Có độc tính sinh thái: Các chất thải có thể gây ra các tác hại nhanh chóng hoặc từ từ đối với môi trường thông qua tích lũy sinh học và/hoặc gây tác hại đến các hệ sinh vật. - Dễ lây nhiễm: Chất thải nếu không được quản lý chặt chẽ, không đảm bảo an toàn trong thu gom, lưu giữ, vận chuyển, xử lý thì các rủi ro, sự cố sẽ gây hậu quả rất nghiêm trọng, ảnh hưởng đến môi trường sống và sức khỏe cộng đồng. Tùy thuộc vào đặc tính và bản chất của chất thải mà khi thải vào môi trường sẽ gây nên các tác động khác nhau, lan truyền bệnh [26].
Theo Công ước Basel năm 1989 [48], chất thải nguy hại được phân làm 7 nhóm, với 236 danh mục hoá chất độc hại.2 Sự cần thiết quản lý chất thải nguy hại Sản xuất công nghiệp là nguồn phát sinh chất thải nguy hại chủ yếu và chiếm hơn 80% khối lượng CTNH như các dung môi, hóa chất, sơn thải, bao bì chứa hóa chất, dầu nhớt thải. Rác thải công nghiệp bao gồm nhiều chất thải độc hại, ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường. Nếu không được xử lý, chất thải độc hại sẽ ảnh hưởng vô cùng lớn đến sức khỏe con người. Ðộ độc hại của các chất thải nguy hại rất khác nhau.
Có chất gây nguy hiểm cho con người như các chất cháy có điểm cháy thấp, các chất diệt côn trùng, các vật liệu clo hoá phân huỷ chậm, có chất gây tác động nhỏ hơn nhưng khối lượng của nó lại là vấn đề lớn như các chất thải hầm mỏ, xỉ, thạch cao phốt phát cũ hoặc các sệt hydroxyt khác. Những chất thải có chứa những hoá chất không tương hợp có thể gây nổ, bắt cháy. Tiếp xúc với axít hoặc kiềm mạnh gây bỏng da. Da hấp thụ một số thuốc trừ sâu có thể gây ngộ độc cấp tính.
Những thùng, hòm chứa chất thải hoá chất nếu không được xử lý, để bừa bãi vào nơi không được bảo vệ tốt có thể gây các tai nạn ngộ độc nghiêm trọng. 9 z Các chất thải công nghiệp chủ yếu tập trung ở các vùng kinh tế trọng điểm, khu công nghiệp đô thị phát triển: Khoảng 80% trong số 2,6 triệu tấn chất thải công nghiệp phát sinh mỗi năm là từ các trung tâm công nghiệp lớn ở miền Bắc và miền Nam. 50% lượng chất thải công nghiệp của Việt Nam phát sinh ở thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận và 30% phát sinh ở các vùng đồng bằng sông Hồng và Bắc Trung Bộ. Thêm vào đó, gần 1.500 làng nghề mà chủ yếu là tập trung ở các vùng nông thôn miền Bắc, mỗi năm phát sinh khoảng 774.000 tấn chất thải công nghiệp không nguy hại.
Chất thải nguy hại là mối hiểm hoạ ngày càng lớn. Nguồn phát sinh chất thải nguy hại lớn nhất là các cơ sở công nghiệp (130.000 tấn/năm) và các bệnh viện (21. Ngoài ra, nông nghiệp cũng là nguồn phát sinh chất thải nguy hại, mỗi năm phát sinh khoảng 8.600 tấn các loại thuốc trừ sâu, bao bì và thùng chứa thuốc trừ sâu và khoảng 37.000 tấn hoá chất tồn lưu bao gồm các loại hóa chất nông nghiệp bị thu giữ và thuốc trừ sâu quá hạn sử dụng. Lượng chất thải nguy hại phát sinh ở các vùng khác nhau khác biệt rõ rệt, đặc biệt là đối với chất thải nguy hại phát sinh từ hoạt động công nghiệp.
Lượng chất thải công nghiệp nguy hại phát sinh từ vùng kinh tế trọng điểm phía Nam chiếm tới 75% tổng lượng chất thải công nghiệp nguy hại của cả nước. 27% tổng lượng chất thải y tế nguy hại phát sinh từ thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội và Thanh Hóa. Trong khi đó, chất thải nguy hại từ nông nghiệp chủ yếu phát sinh ở vùng đồng bằng sông Cửu Long [24].