Tổng quan nghiên cứu

Khu công nghiệp Vân Trung tại huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang đóng vai trò hạt nhân trong cơ cấu phát triển công nghiệp của địa phương nhưng cũng tạo ra áp lực môi trường rất lớn. Theo báo cáo quan trắc ngành môi trường, toàn tỉnh Bắc Giang phát sinh khoảng 63,9 tấn chất thải nguy hại mỗi ngày, chiếm 7,4% tổng lượng chất thải rắn phát sinh (863,8 tấn/ngày). Trong đó, riêng Khu công nghiệp Vân Trung đã phát sinh tới 33,9 tấn chất thải nguy hại mỗi ngày, chiếm tỷ trọng cao nhất với hơn 53% lượng chất thải nguy hại toàn tỉnh.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là làm rõ những bất cập trong chuỗi quản lý chất thải nguy hại tại nguồn, từ khâu phân loại, lưu giữ tạm thời tại kho chứa đến ký kết hợp đồng thu gom và xử lý cuối cùng. Mục tiêu cụ thể là đánh giá toàn diện hiện trạng phát sinh, xử lý chất thải nguy hại tại các cơ sở sản xuất, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước và năng lực tự kiểm soát của doanh nghiệp.

Phạm vi không gian nghiên cứu tập trung vào 20 doanh nghiệp thứ cấp đang hoạt động trên diện tích 150 ha của giai đoạn 1 (tỷ lệ lấp đầy đạt khoảng 60% trên tổng diện tích quy hoạch 433,25 ha). Phạm vi thời gian nghiên cứu thực địa được thực hiện từ tháng 02 năm 2016 đến tháng 12 năm 2016. Luận văn mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc khi cung cấp cơ sở dữ liệu định lượng chính xác, giúp cơ quan chức năng địa phương kiểm soát rủi ro tồn lưu chất thải độc hại và ngăn ngừa ô nhiễm nguồn nước lưu vực sông Thương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết đánh giá độc học môi trường và phân loại chất thải nguy hại theo tiêu chuẩn quốc gia TCVN 6706:2000. Tiêu chuẩn này chia chất thải nguy hại thành 7 nhóm đặc tính cốt lõi: chất thải dễ cháy, chất thải ăn mòn, chất thải dễ nổ, chất thải oxy hóa, chất thải gây độc cấp tính, chất thải độc cho hệ sinh thái và chất thải lây nhiễm. Lý thuyết đánh giá liều lượng tác động thông qua chỉ số độc tính cấp LD50 theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO 1993) được vận dụng để nhận diện mức độ rủi ro qua đường miệng và qua da của các hóa chất công nghiệp.

Về mô hình quản lý, nghiên cứu áp dụng khung lý thuyết quản lý vòng đời chất thải và trách nhiệm mở rộng của chủ nguồn thải theo hệ thống quản lý hóa chất REACH của Liên minh Châu Âu cùng kinh nghiệm kiểm soát nghiêm ngặt từ Cộng hòa Liên bang Đức. Ba khái niệm trung tâm được chuẩn hóa xuyên suốt gồm:

  • Chủ nguồn thải chất thải nguy hại: Tổ chức, cá nhân sở hữu hoặc điều hành cơ sở phát sinh chất thải nguy hại theo quy định tại Thông tư 36/2015/TT-BTNMT và Nghị định 38/2015/NĐ-CP.
  • Ngưỡng chất thải nguy hại: Giới hạn nồng độ hoặc hàm lượng của các thành phần nguy hại làm căn cứ phân định theo QCVN 07:2009/BTNMT.
  • Quản lý chất thải nguy hại: Quy trình tổng thể bao gồm các hoạt động phòng ngừa, giảm thiểu, phân loại, thu gom, lưu giữ, vận chuyển và tiêu hủy an toàn.

Phương pháp nghiên cứu

Cỡ mẫu nghiên cứu được xác định là toàn bộ 20 doanh nghiệp đang hoạt động thực tế tại Khu công nghiệp Vân Trung cùng 07 đơn vị dịch vụ thu gom, xử lý chất thải có liên quan. Tổng số phiếu khảo sát điều tra thực hiện là 74 phiếu, chia thành hai giai đoạn nghiên cứu: giai đoạn 1 (tháng 6 năm 2016) thực hiện 27 phiếu và giai đoạn 2 (tháng 10 năm 2016) thực hiện 47 phiếu.

Phương pháp chọn mẫu áp dụng là điều tra toàn diện kết hợp chọn mẫu có chủ đích đối với 20 cán bộ quản lý nhà nước thuộc Chi cục Bảo vệ Môi trường Bắc Giang, Ban Quản lý các Khu công nghiệp tỉnh và Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Việt Yên. Lý do lựa chọn phương pháp phân tích thống kê mô tả kết hợp đối chiếu quy phạm pháp luật là nhằm so sánh trực tiếp số liệu phát thải kê khai thực tế với các định mức kỹ thuật quy định tại Thông tư 36/2015/TT-BTNMT, Nghị định 155/2016/NĐ-CP và Luật Bảo vệ Môi trường 2014, từ đó lượng hóa chính xác tỷ lệ sai phạm và rủi ro quá tải lưu kho.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, lượng chất thải nguy hại phát sinh tại Khu công nghiệp Vân Trung đạt mức rất cao là 33,9 tấn/ngày, đứng đầu trong 4 khu công nghiệp của tỉnh Bắc Giang (vượt xa Khu công nghiệp Đình Trám với 15 tấn/ngày, Khu công nghiệp Song Khê - Nội Hoàng 13 tấn/ngày và Khu công nghiệp Quang Châu 2 tấn/ngày). Đáng chú ý, thành phần chất thải chiếm tỷ trọng lớn nhất là nước thải nhiễm thành phần nguy hại (axit, dung môi, kim loại nặng) từ dây chuyền sản xuất với khối lượng xấp xỉ 30 tấn/ngày (chiếm 88,5% tổng lượng chất thải nguy hại của khu), tiếp đến là bùn thải nguy hại từ hệ thống xử lý nước với khoảng 0,5 tấn/ngày.

Thứ hai, mức độ tuân thủ thủ tục pháp lý cơ bản đạt tỷ lệ cao khi 100% doanh nghiệp (20/20 cơ sở) đã thực hiện lập báo cáo đánh giá tác động môi trường hoặc kế hoạch bảo vệ môi trường và đăng ký sổ chủ nguồn thải. Tuy nhiên, tỷ lệ doanh nghiệp ký kết hợp đồng thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải nguy hại với các đơn vị có đủ giấy phép hành nghề chỉ đạt mức 85%, đồng nghĩa với việc còn 15% cơ sở chưa thực hiện chuyển giao xử lý đúng quy chuẩn định kỳ.

Thứ ba, công tác kiểm soát môi trường tiếp nhận bộc lộ nguy cơ ô nhiễm cục bộ. Kết quả quan trắc mạng lưới môi trường nước mặt tại kênh tiếp nhận nước thải của Khu công nghiệp Vân Trung đổ ra sông Thương ghi nhận hàm lượng COD vượt 2,35 lần và hàm lượng chất rắn lơ lửng TSS vượt 1,25 lần so với quy chuẩn chất lượng nước mặt QCVN 08-MT:2015/BTNMT.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính dẫn đến sự gia tăng đột biến của lượng chất thải nguy hại dạng lỏng bắt nguồn từ cơ cấu ngành nghề tại khu công nghiệp. Các dự án quy mô lớn tập trung vào sản xuất tấm pin năng lượng mặt trời (như Vina Solar, Vina Cell) và gia công linh kiện điện tử (như SJ Tech, Texon Vina) sử dụng khối lượng lớn hóa chất tẩy rửa bề mặt, dung dịch mạ và axit vô cơ.

Dữ liệu phát thải có thể được mô hình hóa trực quan qua biểu đồ tròn thể hiện cơ cấu chất thải nguy hại (88,5% nước thải sản xuất nguy hại, 1,5% bùn thải và 10% các loại chất thải rắn nguy hại khác như giẻ lau dính dầu, bao bì nhiễm độc, bóng đèn huỳnh quang). Bảng tổng hợp đối chiếu pháp lý chỉ ra rằng công tác kiểm tra, giám sát hiện nay phụ thuộc chủ yếu vào việc ghi chép thủ công trên chứng từ giao nhận và báo cáo lưu trữ định kỳ, dẫn đến nguy cơ sai lệch số liệu phát thải thực tế.

So sánh với các khu công nghiệp tại các vùng kinh tế trọng điểm phía Nam (nơi phát sinh khoảng 82.000 tấn chất thải nguy hại/năm), công nghệ xử lý tại địa bàn Bắc Giang và khu vực phía Bắc còn phụ thuộc nhiều vào các lò đốt công suất nhỏ (từ 20 tấn đến 100 tấn/ngày tại Hà Nội và Bắc Ninh), khiến áp lực lưu kho tạm thời tại Vân Trung luôn ở mức cao.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, số hóa và tự động hóa quy trình quản lý chất thải nguy hại. Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bắc Giang cần chủ trì triển khai hệ thống phần mềm kê khai chứng từ điện tử trực tuyến cho toàn bộ 20 doanh nghiệp trong Khu công nghiệp Vân Trung, phấn đấu hoàn thành trong quý IV năm 2017 nhằm đạt tỷ lệ 100% chứng từ được giám sát thời gian thực, loại bỏ hoàn toàn thống kê thủ công.

Thứ hai, nâng cấp hạ tầng lưu chứa và phân loại kỹ thuật tại nguồn. Ban Quản lý các Khu công nghiệp tỉnh yêu cầu 100% doanh nghiệp thứ cấp cải tạo, xây dựng kho lưu giữ chất thải nguy hại đạt chuẩn kỹ thuật theo Phụ lục 2 của Thông tư 36/2015/TT-BTNMT trước ngày 31 tháng 12 năm 2017. Các đơn vị sản xuất pin mặt trời và linh kiện điện tử phải lắp đặt hệ thống thu gom riêng biệt đối với 30 tấn nước thải axit nguy hại/ngày trước khi đưa vào trạm xử lý nước thải tập trung công suất 5.000 m3/ngày đêm.

Thứ ba, tăng cường thanh tra, kiểm tra liên ngành và xử lý nghiêm vi phạm. Thanh tra Sở Tài nguyên và Môi trường phối hợp với Cảnh sát Môi trường thiết lập tần suất thanh tra định kỳ 02 lần/năm và thanh tra đột xuất đối với 15% cơ sở chưa hoàn thiện hợp đồng xử lý chất thải. Cần áp dụng khung chế tài nghiêm khắc theo Nghị định 155/2016/NĐ-CP để kéo giảm tỷ lệ vi phạm lưu chứa xuống dưới 5% trong giai đoạn 2017 - 2018.

Thứ tư, hoàn thiện chuỗi liên kết dịch vụ xử lý và lắp đặt hệ thống quan trắc tự động. Công ty TNHH Fugiang (chủ đầu tư hạ tầng) cần ký kết hợp tác chiến lược với các nhà máy xử lý chất thải chuyên nghiệp tại Bắc Ninh (công suất 100 tấn/ngày) và Hà Nội (công suất 20 tấn/ngày) nhằm đảm bảo tần suất thu gom ổn định. Đồng thời, hoàn thành lắp đặt trạm quan trắc tự động liên tục đối với nguồn nước thải đầu ra của khu công nghiệp trong giai đoạn 2018 - 2020.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm cơ quan quản lý nhà nước (Sở Tài nguyên và Môi trường, Ban Quản lý các KCN tỉnh Bắc Giang): Luận văn cung cấp bức tranh thực tế về 33,9 tấn chất thải nguy hại phát sinh mỗi ngày, hỗ trợ xây dựng quy chế quản lý liên ngành và hoàn thiện cơ sở dữ liệu thanh tra.

Nhóm doanh nghiệp đầu tư hạ tầng và cơ sở sản xuất tại KCN Vân Trung: Cung cấp hướng dẫn kỹ thuật chi tiết để 20 doanh nghiệp chuẩn hóa kho lưu chứa theo Thông tư 36/2015/TT-BTNMT, giảm thiểu nguy cơ bị xử phạt hành chính theo Nghị định 155/2016/NĐ-CP.

Nhóm đơn vị dịch vụ thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải nguy hại: Nắm bắt cơ cấu phát thải (đặc biệt là 30 tấn nước thải nguy hại và 0,5 tấn bùn thải/ngày) để tính toán tuyến vận chuyển và lựa chọn công nghệ thiêu đốt, hóa rắn tối ưu.

Nhóm nhà nghiên cứu, giảng viên và học viên chuyên ngành Khoa học Môi trường: Tham khảo khung phương pháp luận điều tra xã hội học với 74 phiếu khảo sát và quy trình đánh giá chất thải nguy hại tại các khu công nghiệp công nghệ cao.

Câu hỏi thường gặp

Lượng chất thải nguy hại phát sinh tại Khu công nghiệp Vân Trung là bao nhiêu? Theo kết quả khảo sát năm 2016, lượng chất thải nguy hại phát sinh tại Khu công nghiệp Vân Trung là khoảng 33,9 tấn/ngày, chiếm hơn 53% tổng lượng chất thải nguy hại công nghiệp của toàn tỉnh Bắc Giang (63,9 tấn/ngày).

Thành phần chất thải nguy hại chính tại khu công nghiệp gồm những loại nào? Nguồn phát sinh chủ yếu là nước thải sản xuất nhiễm axit và kim loại nặng với khoảng 30 tấn/ngày, bùn thải nguy hại khoảng 0,5 tấn/ngày, cùng các chất thải rắn như dầu mỡ thải, giẻ lau nhiễm hóa chất và bao bì độc hại.

Tỷ lệ ký hợp đồng chuyển giao xử lý chất thải nguy hại tại khu công nghiệp đạt mức nào? Tỷ lệ doanh nghiệp ký hợp đồng với đơn vị có đủ chức năng xử lý đạt khoảng 85%, vẫn còn 15% doanh nghiệp gặp tồn đọng hoặc chậm trễ trong việc chuyển giao chất thải định kỳ theo quy định môi trường.

Chất lượng nguồn nước mặt tiếp nhận chịu tác động như thế nào từ nước thải khu công nghiệp? Kết quả quan trắc mạng lưới môi trường ghi nhận nồng độ COD tại kênh tiếp nhận đổ ra sông Thương vượt 2,35 lần và hàm lượng chất rắn lơ lửng TSS vượt 1,25 lần so với tiêu chuẩn QCVN 08-MT:2015/BTNMT.

Cỡ mẫu và phương pháp điều tra trong luận văn được thực hiện ra sao? Nghiên cứu tiến hành điều tra toàn bộ 20 doanh nghiệp và 07 đơn vị xử lý kết hợp chọn mẫu chuyên gia quản lý nhà nước với tổng số 74 phiếu khảo sát thực hiện qua hai giai đoạn (tháng 6 và tháng 10 năm 2016).

Kết luận

  • Xác định chính xác tổng lượng chất thải nguy hại phát sinh tại Khu công nghiệp Vân Trung đạt 33,9 tấn/ngày từ 20 doanh nghiệp đang hoạt động trên diện tích 150 ha.
  • Nhận diện nước thải nguy hại từ sản xuất pin năng lượng mặt trời và linh kiện điện tử là nguồn ô nhiễm trọng yếu với khối lượng 30 tấn/ngày.
  • Đánh giá tỷ lệ tuân thủ thủ tục pháp lý cơ bản đạt 100% về đăng ký chủ nguồn thải nhưng tỷ lệ ký hợp đồng xử lý thực tế mới đạt 85%.
  • Cảnh báo rủi ro môi trường khi chỉ số COD và TSS tại nguồn tiếp nhận nước mặt vượt quy chuẩn lần lượt 2,35 lần và 1,25 lần.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp kỹ thuật, thể chế và số hóa quản lý đồng bộ áp dụng cho giai đoạn 2017 - 2020.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là đã lượng hóa chi tiết dòng chất thải nguy hại tại một khu công nghiệp trọng điểm, tạo tiền đề khoa học vững chắc cho công tác quản lý môi trường. Trong giai đoạn tiếp theo từ năm 2017 đến năm 2020, việc triển khai ứng dụng phần mềm kê khai điện tử và lắp đặt trạm quan trắc tự động cần được ưu tiên hàng đầu. Các nhà quản lý, doanh nghiệp và nhà nghiên cứu quan tâm có thể khai thác toàn bộ dữ liệu thực chứng của công trình này để hoàn thiện chính sách bảo vệ môi trường công nghiệp bền vững.