Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp "Pháp luật về quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa ở Việt Nam" do sinh viên Trương Thị Mỹ Linh (Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội, Khóa QH-2013-L) thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của ThS. Lê Thị Bích Huệ. Công trình thuộc chuyên ngành Luật học, tập trung vào lĩnh vực pháp luật kinh tế và quản lý nhà nước về thương mại, kỹ thuật.
Lý do chọn đề tài và bối cảnh thực tiễn
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, chất lượng sản phẩm, hàng hóa là yếu tố quyết định sự an toàn, vệ sinh, sức khỏe con người, tài sản, môi trường cũng như năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và nền kinh tế. Xu thế thị trường mở rộng mang lại cơ hội tiếp cận công nghệ và kinh nghiệm quản lý tiên tiến nhưng đồng thời đặt các doanh nghiệp Việt Nam trước sức ép cạnh tranh gay gắt từ hàng hóa nhập khẩu và các rào cản kỹ thuật nghiêm ngặt từ các thị trường xuất khẩu lớn như Liên minh Châu Âu (EU), Hoa Kỳ, Nhật Bản.
Về phía Nhà nước, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đã từng bước được xây dựng với các đạo luật nền tảng như Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa năm 2007 và Nghị định số 132/2008/NĐ-CP. Tuy nhiên, thực tiễn thi hành bộc lộ nhiều bất cập: quy định pháp luật còn chồng chéo, chưa rõ ràng, thiếu hụt các quy chuẩn kỹ thuật tương ứng, cơ chế thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm còn nhiều điểm nghẽn. Do đó, việc nghiên cứu toàn diện pháp luật về quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa là yêu cầu cấp thiết về mặt lý luận và thực tiễn.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của khóa luận là tìm ra những hạn chế, tồn tại trong hệ thống pháp luật về quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa ở Việt Nam, từ đó đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý điều chỉnh lĩnh vực này.
Để đạt được mục đích trên, khóa luận xác định 3 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Tìm hiểu quy định pháp luật về quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa.
- Tìm hiểu thực tiễn ban hành và áp dụng pháp luật về quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa, từ đó nêu ra những hạn chế, tồn tại trong các quy định này.
- Đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật về quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các quy định của pháp luật về quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa tại Việt Nam, bao gồm nội dung quy định, thực trạng áp dụng, các hạn chế, thiếu sót trong văn bản quy phạm pháp luật và các giải pháp hoàn thiện.
- Phạm vi nghiên cứu: Tác giả không đi sâu vào tất cả các vấn đề chi tiết của mọi lĩnh vực quản lý chất lượng mà tập trung phân tích một số khía cạnh và lĩnh vực nảy sinh nhiều vướng mắc thực tiễn (như công bố tiêu chuẩn, công bố và đánh giá sự phù hợp, ghi nhãn hàng hóa, phân định thẩm quyền và chế tài xử phạt hành chính).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng
Khóa luận tiếp cận vấn đề nghiên cứu từ lý luận quản lý học, kinh tế học và khoa học pháp lý:
- Khái niệm chất lượng sản phẩm, hàng hóa: Tác giả tổng hợp các quan niệm tiếp cận từ thuộc tính sản phẩm, từ nhà sản xuất và từ thị trường/người tiêu dùng (định nghĩa của Tổ chức Kiểm tra Chất lượng Châu Âu - EOQC, quan điểm của Philip Crosby trong tác phẩm "Chất lượng là thứ cho không"). Về mặt chuẩn hóa quốc tế, khóa luận sử dụng định nghĩa của Tổ chức Tiêu chuẩn hóa Quốc tế (ISO): "Chất lượng là mức độ của một tập hợp các thuộc tính vốn có của đối tượng đáp ứng các yêu cầu". Ở góc độ pháp lý Việt Nam, tác giả căn cứ theo Điều 3 Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa năm 2007.
- Khái niệm quản lý chất lượng: Trích dẫn quan điểm của A. Robertson, Feigenbaum và tiêu chuẩn ISO 9000 ("các hoạt động có phối hợp để định hướng và kiểm soát một tổ chức về chất lượng"). Khóa luận phân tích theo nghĩa hẹp (trách nhiệm nội bộ của doanh nghiệp theo Điều 5 Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa) và nghĩa rộng (bao gồm cả quản lý nhà nước).
- Khái niệm pháp luật về quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa: Là tổng thể các quy tắc xử sự do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, điều chỉnh các quan hệ phát sinh giữa cơ quan nhà nước, người sản xuất, kinh doanh và người tiêu dùng nhằm bảo vệ lợi ích hợp pháp của các bên và tạo thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội.
- Bốn nguyên tắc xây dựng và thực hiện pháp luật:
- Bảo vệ lợi ích người tiêu dùng (bù đắp vị thế yếu thế về thông tin và kỹ thuật của người tiêu dùng).
- Bảo đảm quyền tự do quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa của người sản xuất, kinh doanh (tự công bố mức chất lượng, tự quyết định biện pháp kiểm soát nội bộ theo Điều 9 Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa).
- Đảm bảo quản lý nhà nước (thiết lập trật tự kỹ thuật bắt buộc để kiểm soát an toàn).
- Tạo thuận lợi cho thương mại (thừa nhận kết quả đánh giá sự phù hợp qua các Thỏa thuận Công nhận Lẫn nhau - MRA theo Điều 26 Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa).
Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và cam kết quốc tế
Nghiên cứu được xây dựng trên hệ thống văn bản pháp lý chủ yếu gồm:
- Luật: Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa năm 2007; Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật năm 2006; Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013; Luật Thanh tra năm 2010; Luật Doanh nghiệp.
- Nghị định và Quyết định của Thủ tướng Chính phủ: Nghị định số 132/2008/NĐ-CP; Nghị định số 127/2007/NĐ-CP; Nghị định số 89/2006/NĐ-CP và Nghị định số 43/2017/NĐ-CP (về nhãn hàng hóa); Nghị định số 80/2013/NĐ-CP (xử phạt trong lĩnh vực tiêu chuẩn, đo lường và chất lượng); Nghị định số 97/2013/NĐ-CP (xử phạt trong kinh doanh xăng dầu, khí dầu mỏ hóa lỏng); Quyết định số 50/2006/QĐ-TTg; Quyết định số 97/2009/QĐ-TTg; Quyết định số 1171/QĐ-BKHCN.
- Thông tư chuyên ngành: Thông tư số 21/2007/TT-BKHCN; Thông tư số 23/2007/TT-BKHCN; Thông tư số 09/2009/TT-BKHCN; Thông tư số 28/2012/TT-BKHCN; Thông tư số 26/2012/TT-BKHCN; Thông tư số 46/2015/TT-BCT; Thông tư liên tịch số 34/2014/TTLT-BYT-BNNPTNT-BCT.
- Chuẩn mực và hiệp định quốc tế: Hiệp định về hàng rào kỹ thuật trong thương mại (Hiệp định TBT/WTO), Tiêu chuẩn ISO/IEC 17011, các thỏa thuận MRA, các cam kết trong Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) và các hiệp định thương mại tự do (FTA).
Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu
- Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp hệ thống hóa, phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp.
- Nguồn dữ liệu: Dữ liệu luật viết, văn bản dưới luật, số liệu thống kê chính thức từ Viện Tiêu chuẩn Chất lượng Việt Nam (VSQI), Văn phòng Công nhận Chất lượng (BoA) – Bộ Khoa học và Công nghệ, báo cáo kiểm tra của lực lượng Quản lý thị trường và tư liệu các vụ việc vi phạm thực tế tại các địa phương.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa và pháp luật về quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa
Chương 1 xây dựng nền tảng lý luận về quản lý chất lượng và khuôn khổ pháp luật điều chỉnh:
- Vai trò của quản lý chất lượng: Phân tích tác động ở 3 cấp độ: đối với xã hội (bảo đảm an toàn, sử dụng tài nguyên hợp lý, định hướng tăng trưởng xuất khẩu), đối với doanh nghiệp (xác định hướng cải tiến, tối ưu chi phí, nâng cao uy tín và giảm thiểu rủi ro pháp lý/thương mại), và đối với người tiêu dùng (thỏa mãn nhu cầu, cải thiện chất lượng sống).
- Phân định trách nhiệm quản lý: Khóa luận làm rõ sự khác biệt giữa trách nhiệm của doanh nghiệp (quản lý vì mục tiêu sinh lời, tuân thủ quy chuẩn kỹ thuật và nâng cao năng lực cạnh tranh) và trách nhiệm của Nhà nước (quản lý nhằm thực thi pháp luật, thiết lập trật tự an toàn kỹ thuật, bảo vệ lợi ích công cộng và người tiêu dùng).
- Các chế định và biện pháp quản lý cơ bản:
- Công bố tiêu chuẩn áp dụng: Doanh nghiệp tự xây dựng và công bố tiêu chuẩn cơ sở (TCCS) bằng cách chấp nhận tiêu chuẩn quốc gia/quốc tế/khu vực, xây dựng mới hoặc sửa đổi, bổ sung.
- Công bố sự phù hợp: Bao gồm công bố hợp chuẩn (tự nguyện, dựa trên tiêu chuẩn) và công bố hợp quy (bắt buộc, dựa trên quy chuẩn kỹ thuật theo định nghĩa của Hiệp định TBT).
- Đánh giá sự phù hợp: Bao gồm các hoạt động kỹ thuật như thử nghiệm, giám định, chứng nhận (sản phẩm, hệ thống quản lý) và công nhận năng lực tổ chức đánh giá sự phù hợp; vai trò của cơ chế thừa nhận lẫn nhau (MRA) theo tiêu chuẩn ISO/IEC 17011.
- Thanh tra, kiểm tra nhà nước: Hoạt động xem xét, đánh giá việc chấp hành pháp luật và xử lý vi phạm trong từng giai đoạn sản xuất, nhập khẩu và lưu thông trên thị trường.
Chương 2: Thực trạng pháp luật về quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa ở Việt Nam
Chương 2 đi sâu đánh giá việc thực thi pháp luật và chỉ ra các vướng mắc, mâu thuẫn trong thực tế:
- Về thẩm quyền và phân loại nhóm sản phẩm: Pháp luật phân chia sản phẩm thành 2 nhóm dựa trên khả năng gây mất an toàn:
- Nhóm 1 (sản phẩm không có hoặc ít có khả năng gây mất an toàn): Quản lý trên cơ sở tiêu chuẩn do người sản xuất tự công bố áp dụng.
- Nhóm 2 (sản phẩm có khả năng gây mất an toàn): Bắt buộc quản lý trên cơ sở quy chuẩn kỹ thuật quốc gia (QCVN) do cơ quan nhà nước ban hành kết hợp tiêu chuẩn công bố áp dụng.
- Thực trạng công bố tiêu chuẩn áp dụng và ghi nhãn:
- Tình trạng doanh nghiệp công bố tiêu chuẩn nhưng sản phẩm thực tế không đạt chất lượng (ví dụ: Công ty CP Quốc tế Đông Trung tại Lâm Đồng công bố hàm lượng NPK 53% nhưng kiểm tra chỉ đạt 8,2%; Công ty Đông Hải tại Đà Nẵng công bố 53% nhưng kiểm tra thực tế đạt gần 3%).
- Bất cập về ghi nhãn: Nghị định số 89/2006/NĐ-CP từng gây vướng mắc khi lực lượng kiểm tra xử phạt doanh nghiệp thủy sản nhập khẩu nguyên liệu để chế biến xuất khẩu vì thiếu nhãn phụ tiếng Việt (vấn đề này được tháo gỡ tại Nghị định số 43/2017/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/6/2017). Thông tư liên tịch số 34/2014/TTLT-BYT-BNNPTNT-BCT quy định bắt buộc ghi số Giấy tiếp nhận công bố hợp quy lên phụ gia nhập khẩu chưa phù hợp với hàng nhập khẩu làm nguyên liệu sản xuất xuất khẩu, đồng thời khái niệm "sản phẩm sơ chế" chưa được định nghĩa rõ ràng.
- Thực trạng xây dựng tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật:
- Tiêu chuẩn Quốc gia (TCVN): Tính đến hết tháng 12/2015, có 8.625 TCVN được Bộ Khoa học và Công nghệ công bố (đã ban hành TCVN 9000:2015 và TCVN 9001:2015). Mức độ hài hòa với tiêu chuẩn quốc tế và khu vực đạt trên 45% (mục tiêu năm 2020 là 60%). Tuy nhiên, nhiều TCVN vẫn có trình độ kỹ thuật lạc hậu.
- Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia (QCVN): Toàn quốc có 632 QCVN do 13 Bộ quản lý chuyên ngành ban hành, trong đó có 425 QCVN điều chỉnh sản phẩm nhóm 2 (chiếm 67%). Hiện vẫn còn 86 đối tượng/nhóm đối tượng hàng hóa nhóm 2 chưa có QCVN tương ứng (thuộc các lĩnh vực như trang thiết bị PCCC, thiết bị kỹ thuật ngành công an, hạ tầng giao thông, vật liệu nổ công nghiệp, thiết bị y tế, hóa chất diệt khuẩn, vị thuốc đông y có độc tính, thiết bị y học cổ truyền). Ngược lại, có sản phẩm không thuộc danh mục nhóm 2 lại được ban hành QCVN.
- Thực trạng đánh giá sự phù hợp và tổ chức công nhận:
- Giai đoạn 1995–2015, Văn phòng Công nhận Chất lượng (BoA) đã công nhận hơn 900 tổ chức đánh giá sự phù hợp.
- Bất cập trong giám định hàng giả: Thủ tục xử lý bắt buộc có kết luận giám định, chi phí giám định đắt và lực lượng thực thi phải tạm ứng kinh phí trong khi việc truy thu từ đối tượng vi phạm rất khó khăn; thiếu cơ chế xác nhận đối với hàng hóa nhập khẩu không có đại diện thương hiệu tại Việt Nam.
- Xung đột pháp lý: Quyết định số 97/2009/QĐ-TTg quy định danh mục cá nhân được thành lập tổ chức KHCN dẫn đến việc hiểu nhầm, khiến Công ty Cổ phần Công nhận Quốc tế (AoV) thành lập theo Luật Doanh nghiệp tự thực hiện hoạt động công nhận phòng thử nghiệm khi chưa đáp ứng đủ điều kiện theo Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật. Ngoài ra, có sự không đồng nhất giữa khái niệm "đơn vị sự nghiệp khoa học" trong Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật năm 2006 với 3 loại hình tổ chức KHCN tại Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013.
- Thực trạng thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm:
- Số lượng cơ sở được kiểm tra hàng năm rất hạn chế, chỉ chiếm khoảng 2,5% tổng số cơ sở sản xuất kinh doanh sản phẩm nhóm 2.
- Cơ quan quản lý còn bị động, chỉ tăng cường thanh tra sau khi xảy ra sự cố nghiêm trọng (điển hình vụ ngộ độc rượu tại huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu ngày 13/2/2017 làm 69 người ngộ độc, 9 người tử vong).
- Sự chồng chéo, mâu thuẫn về chế tài xử phạt vi phạm hành chính giữa Nghị định số 80/2013/NĐ-CP và Nghị định số 97/2013/NĐ-CP trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu.
| Tiêu chí so sánh |
Nghị định số 80/2013/NĐ-CP (Tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng) |
Nghị định số 97/2013/NĐ-CP (Dầu khí, kinh doanh xăng dầu) |
| Hành vi gian lận phương tiện đo (tháo niêm phong, tác động sai lệch kết quả đo...) |
Phạt tiền từ 200.000 đồng đến 100 triệu đồng (Điều 10) |
Phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 50 triệu đồng (Điều 22) |
| Hành vi vi phạm chất lượng lưu thông (bán hàng không phù hợp QCVN, pha tạp chất...) |
Phạt tiền từ 3 lần đến 5 lần tổng giá trị hàng hóa vi phạm (Khoản 7 Điều 20) |
Phạt tiền từ 1 lần đến 2,5 lần tổng giá trị hàng hóa vi phạm (Điều 23) |
| Đánh giá pháp lý |
Mức phạt mang tính răn đe cao hơn, gắn trực tiếp với quản lý chất lượng |
Cùng hành vi nhưng khung phạt tiền và tỷ lệ phạt giá trị thấp hơn, gây xung đột áp dụng |
- Trách nhiệm quản lý nhà nước: Phân công trách nhiệm quản lý chất lượng giữa Bộ Khoa học và Công nghệ (đầu mối thống nhất trước Chính phủ) và các Bộ quản lý chuyên ngành, chỉ ra sự cần thiết phải tăng cường phối hợp liên ngành.
Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa ở Việt Nam
Chương 3 đưa ra các phương hướng và giải pháp cụ thể:
- Phương hướng hoàn thiện: Xây dựng hệ thống pháp luật đồng bộ, minh bạch, giảm thiểu thủ tục hành chính không cần thiết, thúc đẩy xã hội hóa hoạt động đánh giá sự phù hợp và bảo đảm tính tương thích với các cam kết quốc tế (WTO/TBT, FTA, MRA).
- Kiến nghị cụ thể:
- Hoàn thiện hệ thống Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia: Khẩn trương xây dựng và ban hành đầy đủ 86 QCVN còn thiếu cho các đối tượng thuộc danh mục sản phẩm nhóm 2; rà soát loại bỏ QCVN đối với các sản phẩm không thuộc nhóm 2.
- Sửa đổi, thống nhất các văn bản quy phạm pháp luật: Sửa đổi Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật năm 2006 để đồng bộ với Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013 về phân loại tổ chức KHCN; bãi bỏ các quy định gây nhầm lẫn tại Quyết định số 97/2009/QĐ-TTg liên quan đến điều kiện thành lập tổ chức công nhận; hợp nhất và đồng bộ quy định xử phạt vi phạm hành chính giữa Nghị định số 80/2013/NĐ-CP và Nghị định số 97/2013/NĐ-CP.
- Hoàn thiện quy định về ghi nhãn và truy xuất xuất xứ: Thực thi hiệu quả Nghị định số 43/2017/NĐ-CP, sửa đổi Thông tư liên tịch số 34/2014/TTLT-BYT-BNNPTNT-BCT để miễn trừ thủ tục không cần thiết cho nguyên liệu gia công xuất khẩu và định nghĩa cụ thể "sản phẩm sơ chế".
- Đổi mới công tác thanh tra, kiểm tra và giám định: Nâng cao tỷ lệ kiểm tra định kỳ đối với sản phẩm nhóm 2 (vượt mức 2,5% hiện tại), thiết lập cơ chế tài chính linh hoạt cho chi phí tạm ứng giám định hàng giả và tăng cường sự phối hợp giữa cơ quan quản lý thị trường với các chủ sở hữu thương hiệu nước ngoài.
Kết quả và đóng góp
Kết quả chính kèm số liệu thực chứng
Khóa luận đã trích xuất và phân tích hệ thống số liệu cụ thể phản ánh thực trạng pháp luật quản lý chất lượng tại Việt Nam:
- Về hệ thống tiêu chuẩn và quy chuẩn: Đã công bố 8.625 Tiêu chuẩn Quốc gia (TCVN), tỷ lệ hài hòa quốc tế và khu vực đạt trên 45% (hướng tới mục tiêu 60% vào năm 2020). Ban hành 632 Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia (QCVN) do 13 Bộ ngành xây dựng, trong đó 425 QCVN điều chỉnh sản phẩm nhóm 2 (đạt 67%), còn tồn tại khoảng trống pháp lý với 86 nhóm sản phẩm nhóm 2 chưa có QCVN.
- Về mạng lưới đánh giá sự phù hợp: Văn phòng Công nhận Chất lượng (BoA) đã công nhận hơn 900 tổ chức đánh giá sự phù hợp trong giai đoạn 1995–2015.
- Về năng lực kiểm tra và thực thi pháp luật: Tỷ lệ kiểm tra định kỳ hàng năm chỉ bao quát được khoảng 2,5% tổng số cơ sở sản xuất kinh doanh sản phẩm nhóm 2.
- Về các vi phạm thực tế: Phản ánh các vụ việc sai lệch chỉ tiêu chất lượng công bố (mức dinh dưỡng phân bón NPK của Công ty Quốc tế Đông Trung chỉ đạt 8,2% so với 53% công bố; Công ty Đông Hải chỉ đạt gần 3% so với 53% công bố); phân tích vụ ngộ độc rượu tại huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu (ngày 13/2/2017) với 69 nạn nhân và 9 trường hợp tử vong do sản phẩm không đạt chuẩn an toàn thực phẩm.
Đóng góp khoa học và thực tiễn của khóa luận
- Về mặt khoa học: Khóa luận hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý chất lượng và pháp luật quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế; làm rõ mối quan hệ pháp lý giữa cơ quan quản lý nhà nước, người sản xuất, kinh doanh và người tiêu dùng.
- Về mặt thực tiễn: Công trình cung cấp bức tranh chi tiết về tình hình ban hành và áp dụng pháp luật, phát hiện các "khoảng trống" (86 nhóm sản phẩm nhóm 2 thiếu quy chuẩn) và các điểm chồng chéo, xung đột văn bản (giữa Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật với Luật Khoa học và Công nghệ; giữa Nghị định 80/2013/NĐ-CP với Nghị định 97/2013/NĐ-CP; các vướng mắc của Thông tư 34 và Quyết định 97). Từ đó, khóa luận đưa ra các đề xuất lập pháp và lập quy có giá trị tham khảo thiết thực cho việc hoàn thiện chính sách.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của đề tài
Theo tự nhận định của tác giả trong phạm vi nghiên cứu, khóa luận không đi sâu phân tích toàn diện tất cả các lĩnh vực kỹ thuật chuyên ngành và mọi nhóm sản phẩm, hàng hóa trong nền kinh tế mà chỉ tập trung khảo cứu các khâu, các lĩnh vực đang tồn tại nhiều vướng mắc pháp lý và tranh chấp thực tiễn điển hình (ghi nhãn thực phẩm - thủy sản, quản lý đo lường - chất lượng xăng dầu, giám định hàng giả và quản lý tổ chức công nhận).
Hướng nghiên cứu tiếp
- Tiếp tục theo dõi và đánh giá tác động thực tế của Nghị định số 43/2017/NĐ-CP sau khi có hiệu lực thi hành từ ngày 01/6/2017 đối với hoạt động ghi nhãn hàng hóa của doanh nghiệp xuất nhập khẩu.
- Nghiên cứu cơ chế pháp lý chuyên sâu nhằm đẩy nhanh việc xây dựng 86 QCVN còn thiếu cho nhóm sản phẩm có nguy cơ gây mất an toàn cao.
- Đánh giá tác động của việc thực thi các cam kết trong Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP/TPP trước đây) và các FTA thế hệ mới đối với việc thừa nhận kết quả đánh giá sự phù hợp và xác định xuất xứ hàng hóa tại Việt Nam.
Giá trị tham khảo
Tài liệu khóa luận có giá trị tham khảo hữu ích cho các nhóm đối tượng:
- Sinh viên, học viên ngành Luật: Đặc biệt là chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Thương mại Quốc tế và Luật Hành chính khi nghiên cứu các chuyên đề về quản lý nhà nước đối với nền kinh tế, rào cản kỹ thuật trong thương mại (TBT) và pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
- Cán bộ quản lý nhà nước và lực lượng thực thi: Cán bộ công tác tại các Chi cục/Cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng, lực lượng Quản lý thị trường, Thanh tra Bộ Khoa học và Công nghệ, cơ quan Hải quan trong việc nhận diện các điểm chồng chéo về thẩm quyền và khung xử phạt vi phạm hành chính.
- Doanh nghiệp và tổ chức đánh giá sự phù hợp: Là nguồn tài liệu tham khảo cho các doanh nghiệp sản xuất, xuất nhập khẩu nắm bắt quy trình công bố tiêu chuẩn áp dụng, công bố hợp chuẩn, công bố hợp quy, cũng như các điều kiện hoạt động của phòng thử nghiệm, tổ chức chứng nhận và giám định theo quy định pháp luật.
Câu hỏi thường gặp
1. Khóa luận phân biệt sản phẩm, hàng hóa Nhóm 1 và Nhóm 2 như thế nào về căn cứ và phương thức quản lý?
Căn cứ vào khả năng gây mất an toàn theo Khoản 1 Điều 5 Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa năm 2007:
- Nhóm 1: Gồm những sản phẩm, hàng hóa không có hoặc ít có khả năng gây mất an toàn (trong điều kiện vận chuyển, lưu giữ, bảo quản, sử dụng hợp lý không gây hại cho người, sinh vật, tài sản, môi trường). Nhóm này được quản lý chất lượng trên cơ sở tiêu chuẩn do người sản xuất tự công bố áp dụng.
- Nhóm 2: Gồm những sản phẩm, hàng hóa có tiềm năng gây mất an toàn dù được vận chuyển, lưu giữ, bảo quản, sử dụng đúng mục đích. Nhóm này bắt buộc phải quản lý trên cơ sở Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia (QCVN) do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành kết hợp với tiêu chuẩn do người sản xuất công bố.
2. Thực trạng ban hành Tiêu chuẩn Quốc gia (TCVN) và Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia (QCVN) được tác giả nêu ra với các số liệu nào?
Theo số liệu của Viện Tiêu chuẩn Chất lượng Việt Nam (VSQI) tính đến hết tháng 12/2015:
- TCVN: Đã công bố 8.625 Tiêu chuẩn Quốc gia; tỷ lệ hài hòa với tiêu chuẩn quốc tế và khu vực đạt trên 45% (mục tiêu đến năm 2020 là 60%).
- QCVN: Tổng số có 632 QCVN do 13 Bộ chuyên ngành ban hành. Trong đó, có 425 QCVN điều chỉnh sản phẩm nhóm 2 (chiếm 67%). Vẫn còn 86 đối tượng/nhóm đối tượng thuộc nhóm 2 chưa được ban hành QCVN tương ứng.
3. Khóa luận chỉ ra bất cập gì về quy định ghi nhãn phụ tiếng Việt và giải pháp giải quyết là gì?
Theo Nghị định số 89/2006/NĐ-CP và Thông tư liên tịch số 34/2014/TTLT-BYT-BNNPTNT-BCT, các doanh nghiệp chế biến thủy sản xuất khẩu bị xử phạt do kho nguyên liệu nhập khẩu (phụ gia, hương liệu) chỉ có nhãn tiếng Anh mà không dán nhãn phụ tiếng Việt hoặc thiếu số giấy tiếp nhận công bố hợp quy. Tác giả chỉ ra quy định này không hợp lý vì hàng hóa chỉ phục vụ gia công xuất khẩu, không tiêu thụ nội địa. Vướng mắc này được giải quyết khi Nghị định số 43/2017/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/6/2017, chính thức miễn ghi nhãn phụ cho nguyên liệu, phụ gia nhập khẩu để sản xuất hàng xuất khẩu không bán ra thị trường trong nước.
4. Xung đột pháp lý giữa Nghị định số 80/2013/NĐ-CP và Nghị định số 97/2013/NĐ-CP trong xử phạt vi phạm xăng dầu cụ thể ra sao?
Hai nghị định quy định xử phạt đối với cùng một hành vi gian lận đo lường và chất lượng xăng dầu nhưng mức phạt rất khác nhau:
- Gian lận phương tiện đo: Nghị định số 80 phạt từ 200.000 đồng đến 100 triệu đồng; Nghị định số 97 phạt từ 5 triệu đồng đến 50 triệu đồng.
- Vi phạm chất lượng xăng dầu lưu thông: Nghị định số 80 phạt tiền từ 3 đến 5 lần tổng giá trị hàng hóa vi phạm; Nghị định số 97 chỉ phạt từ 1 đến 2,5 lần tổng giá trị hàng hóa vi phạm. Sự thiếu thống nhất này làm giảm tính răn đe và gây lúng túng cho cơ quan thực thi.
5. Vấn đề pháp lý nào nảy sinh từ Quyết định số 97/2009/QĐ-TTg liên quan đến hoạt động công nhận của Công ty AoV?
Quyết định số 97/2009/QĐ-TTg cho phép cá nhân thành lập tổ chức KHCN trong lĩnh vực "dịch vụ công nhận...". Quy định này gây hiểu nhầm rằng doanh nghiệp thành lập theo Luật Doanh nghiệp có thể thực hiện chức năng công nhận. Thực tế, Công ty CP Công nhận Quốc tế (AoV) đã hoạt động công nhận phòng thử nghiệm dù bản chất là một doanh nghiệp, không đáp ứng điều kiện theo Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật (chỉ tổ chức công nhận được thành lập theo pháp luật KHCN và đăng ký đủ điều kiện mới được phép thực hiện).
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp "Pháp luật về quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa ở Việt Nam" của tác giả Trương Thị Mỹ Linh là công trình nghiên cứu học thuật có kết cấu chặt chẽ, kết hợp hài hòa giữa cơ sở lý luận và thực tiễn thi hành pháp luật. Dựa trên việc phân tích các chế định cốt lõi của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa năm 2007 và các văn bản liên quan, tác giả đã làm rõ các điểm nghẽn thực tiễn như việc thiếu hụt 86 quy chuẩn kỹ thuật nhóm 2, bất cập về ghi nhãn và sự chồng chéo trong các quy định xử phạt vi phạm hành chính. Các kiến nghị hoàn thiện thể chế được đề xuất trong khóa luận góp phần cung cấp cơ sở khoa học cho việc nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế hiệu quả.