MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Tại Việt Nam, GD&ĐT luôn được Đảng và nhà nước coi trọng, là quốc sách hàng đầu trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, so với yêu cầu phát triển đất nước, GD THPT công lập1 cả nước nói chung và của Tp. Hà Nội nói riêng vẫn còn tồn tại một số bất cập, hạn chế. Chẳng hạn như, chất lượng GD THPT chưa đi đôi với phát triển nhanh về số lượng; hệ thống GD THPT công lập còn thiếu đồng bộ, mất cân đối giữa các quận/huyện/thị xã; GD THPT còn quan tâm nhiều đến dạy chữ mà chưa thực sự chú trọng đúng mức đến dạy người, dạy kỹ năng sống và dạy nghề cho học sinh; chương trình, giáo trình, phương pháp GD chậm đổi mới; nhà trường chưa gắn chặt với đời sống xã hội và lao động nghề nghiệp, chưa chú trọng phát huy tính sáng tạo, năng lực thực hành của học sinh,.
Một trong các nguyên nhân chính dẫn tới những bất cập trên là công tác quản lý còn hạn chế, cơ chế QLGD chậm đổi mới, chưa theo kịp sự đổi mới trên các lĩnh vực của đất nước [6]. Đặc biệt là QLCL/BĐCL dạy học2 GDPT nói chung và của các trường THPT công lập nói riêng còn nhiều hạn chế, bất cập và chưa được quan tâm đúng mức. Nghị quyết 29 của Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT tiếp tục khẳng định: “Đổi mới căn bản công tác QLGD, đào tạo, bảo đảm dân chủ, thống nhất tăng quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội của các cơ sở GD, đào tạo, coi trọng QLCL… ” [6]. Trong những năm gần đây, Bộ GD&ĐT luôn xác định việc đổi mới quản lý là điều kiện tiên quyết trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả GD.
Muốn đổi mới quản lý thành công đòi hỏi các cấp QLGD phải đổi mới nhận thức về nhiệm vụ cơ bản, lâu dài, thường xuyên đó là QLCL GD. Triển khai việc đổi mới được tiến hành kiên quyết và đồng bộ từ việc xây dựng và ban hành các 1 Trong luận án này, nhiều nội dung khi đề cập đến “Trường THPT” được hiểu là Trường THPT “công lập” 2 Dạy học được hiểu là việc dạy học của GV và việc học tập của HS án tiến sĩ Hóa học 2 hành lang pháp lý; tăng cường năng lực đội ngũ cán bộ quản lý, lãnh đạo; kiện toàn tổ chức bộ máy; huy động mọi nguồn lực tài chính để đầu tư nâng cấp cơ sở, vật chất, trang thiết bị và các điều kiện cần thiết khác phục vụ việc dạy và học. Thực tế cho thấy, công tác quản lý nhà trường mà đặc biệt là QLDH cũng như BĐCL dạy học ở các trường THPT công lập luôn đóng một vai trò hết sức quan trọng, góp phần nâng cao chất lượng GD của nhà trường. Bởi vì, QLDH và BĐCL dạy học góp phần xây dựng một môi trường GD lành mạnh, hấp dẫn với tính kỷ luật tự giác và tình cảm, trách nhiệm; hình thành và phát triển cho HS năng lực thích ứng với những thay đổi trong thực tiễn để tự chủ, tự lập, năng động trong lao động, trong cuộc sống, … Trong những năm qua, QLDH và BĐCL dạy học của các trường THPT công lập trên địa bàn TP.
Hà Nội đã đạt được nhiều thành tích đáng ghi nhận, từng bước hoàn thiện hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật để tạo hành lang pháp lý góp phần đẩy mạnh công tác QLGD theo hướng tăng quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho ngành GD và các nhà trường THPT; bộ máy thanh tra GD các cấp tiếp tục được kiện toàn, công tác kiểm tra, thanh tra GD đã có chuyển biến tích cực, góp phần đáng kể vào việc giữ vững kỷ cương nền nếp học đường; công tác BĐCL và kiểm định chất lượng GD đã được triển khai trên phạm vi toàn thành phố,. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, QLGD THPT mà đặc biệt là QLDH và BĐCL dạy học ở các trường THPT công lập trên địa bàn TP. Hà Nội còn một số bất cập, hạn chế, dẫn đến chất lượng dạy học còn chưa cao trong bối cảnh thực hiện chương trình GDPT 2018. Một trong các nguyên nhân chính là do quản lý nhà trường và QLDH, đặc biệt là BĐCL dạy học của các trường THPT chưa đáp ứng được yêu cầu, chưa xây dựng được các tiêu chí và qui trình BĐCL dạy học phù hợp, sự bất cập về năng lực cán bộ lãnh đạo và quản lý tại các trường THPT, tính liên kết giữa nhà trường với cộng đồng còn hạn chế,.
Hiện nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về QLDH và BĐCL cơ sở án tiến sĩ Hóa học 3 GDPT/trường THPT công lập trên thế giới và một số ít ở Việt Nam. Tuy nhiên, các nghiên cứu này chưa đề cập đến nội dung xây dựng các tiêu chí và quy trình BĐCL dạy học phù hợp cho bối cảnh của nhà trường THPT trên địa bàn TP. Hà Nội, giúp các nhà trường có thể thường xuyên tự đánh giá và đề xuất các giải pháp cải tiến liên tục dựa trên các tiêu chí đề ra,. Vì vậy, việc nghiên cứu luận án với đề tài “Quản lý chất lượng dạy học của các trường THPT công lập Tp.
Hà Nội theo tiếp cận BĐCL” là cấp thiết, có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn. Mục tiêu nghiên cứu Xây dựng khung lý luận, làm tiền đề nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp QLCL dạy học ở các trường THPT công lập trên địa bàn TP. Hà Nội theo tiếp cận BĐCL dựa vào CIPO và PEAPDC-EA3, góp phần nâng cao chất lượng dạy học. Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3.
Khách thể nghiên cứu Quá trình dạy học của trường THPT công lập dựa vào CIPO. Đối tượng nghiên cứu Quản lý chất lượng quá trình dạy học của trường THPT công lập tại TP. Hà Nội theo tiếp cận BĐCL dựa vào CIPO và PEAPDC-EA. Giả thuyết khoa học Bên cạnh kết quả đạt được, chất lượng dạy học của các trường THPT công lập trên địa bàn TP.
Hà Nội hiện nay đã bộc lộ khá nhiều hạn chế, chưa đáp ứng tốt yêu cầu xã hội, đặc biệt là trong bối cảnh đổi mới căn bản, toàn diện GD, thực hiện chương trình GDPT 2018. Một trong các nguyên nhân chủ yếu được coi đó là do BĐCL hay QLCL dạy học theo tiếp cận BĐCL chưa được thực hiện tốt. 3 PEAP-DC-EA: PE được hiểu là “Tổ chức đánh giá định kỳ” (E - Evaluating); PA là “Tổ chức phân tích” (A – Analysing); PP là “Tổ chức xây dựng văn bản kế hoạch” (P – Plan) trong P – Planning là “Tổ chức lập kế hoạch”; D (Doing) là “Tổ chức thực hiện kế hoạch”; C (Checking) là “Tổ chức kiểm tra kết quả thường xuyên”; E như trên; và A – Acting là “Tổ chức phản hồi kết quả để CTCL”. án tiến sĩ Hóa học 4 Vì vậy, nếu nghiên cứu đề xuất được một bộ tiêu chuẩn, tiêu chí, chỉ báo chất lượng gắn với quy trình QLCL dạy học theo tiếp cận BĐCL theo quá/tiến trình dạy học CIPO và chu trình cải tiến chất lượng PEAPDC-EA cho các trường THPT công lập trên địa bàn TP.
Hà Nội, làm tiền đề thiết kế công cụ đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp phát huy thế mạnh gắn với tận dụng cơ hội để khắc phục các hạn chế và nguyên nhân, cũng như giảm thiểu thách thức/nguy cơ, sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy học, đáp ứng tốt hơn nhu cầu, yêu cầu của xã hội, góp phần nâng cao dân trí và hình thành, phát triển nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của TP. Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu 5. Nội dung và nhiệm vụ nghiên cứu - Xây dựng cơ sở lý luận về QLCL dạy học của trường THPT công lập theo tiếp cận BĐCL. - Đánh giá thực trạng QLCL dạy học của các trường THPT công lập trên địa bàn TP.
Hà Nội theo tiếp cận BĐCL. - Đề xuất giải pháp QLCL dạy học của các trường THPT công lập trên địa bàn TP. Hà Nội theo tiếp cận BĐCL. - Khảo nghiệm tính cấp thiết và khả thi của các giải pháp do đề tài luận án đề xuất.
- Lựa chọn Giải pháp 1 để thử nghiệm. Phạm vi nghiên cứu - Về nội dung: Tập trung nghiên cứu đề xuất Bộ tiêu chuẩn, tiêu chí, chỉ báo chất lượng gắn với quy trình QLCL dạy học theo tiếp cận BĐCL của trường THPT công lập dựa vào CIPO và theo PEAPDC-EA tại các cấp “Sở GD&ĐT – trường THPT – Lớp học” trong khuôn khổ qui định của Bộ GD&ĐT, làm cơ sở để các trường có thể thường xuyên tự kiểm tra, giám sát gắn với định kỳ đánh giá và phản hồi thông tin để điều chỉnh, CTCL; và ở đây là trường THPT công lập bình thường, không phải các trường THPT chuyên, chuyên biệt. khác - Về điều tra, khảo sát: Chọn mẫu 50 trường THPT công lập trên địa bàn TP. Hà Nội với các mẫu đại diện cho: thành thị, nông thôn; chất lượng dạy học, án tiến sĩ Hóa học 5 GD của tổng số 118 trường THPT.
Các đối tượng liên quan bao gồm: Cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp; GV, HS; CMHS, TVCĐ (thông tin chi tiết có tại Phụ lục 1); đồng thời, trong quá trình nghiên cứu có sử dụng một số dữ liệu thứ cấp liên quan của 03 năm học từ năm 2019 đến năm 2022. Cách tiếp cận và các phương pháp nghiên cứu 6. Cách tiếp cận nghiên cứu Quá trình nghiên cứu và xây dựng khung lý luận và thực tiễn về phát triển QLCL dạy học theo tiếp cận BĐCL của trường THPT công lập luận án đã sử dụng một số cách tiếp cận chính sau: Thứ nhất, tiếp cận hệ thống: Hệ thống là một tổng thể và được tạo thành bởi nhiều thành tố có mối quan hệ mật thiết, tác động qua lại lẫn nhau. Do đó, khi thay đổi một thành tố sẽ dẫn đến sự thay đổi của cả hệ thống.
Vì vậy, nghiên cứu QLCL dạy học của trường THPT công lập theo tiếp cận BĐCL cần quan tâm đến mối quan hệ mật thiết giữa nhà trường với các bên liên quan trong và ngoài nhà trường: “Trường THPT (với cấp bậc học khác trong hệ thống GD) – Gia đình/CMHS – Cộng đồng”.