phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được trình bày trong 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ cố vấn học tập cho giảng viên trường đại học. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ cố vấn học tập cho giảng viên tại Trường Đại học Ngoại thương Hà Nội. Chƣơng 3: Biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ cố vấn học tập cho giảng viên tại Trường Đại học Ngoại thương Hà Nội. 5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƢỠNG NGHIỆP VỤ CỐ VẤN HỌC TẬP CHO GIẢNG VIÊN TRƢỜNG ĐẠI HỌC 1.
Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu về công tác cố vấn học tập của giảng viên đại học Ở nước ngoài, hệ thống tín chỉ lần đầu tiên được áp dụng tại Đại học Harvard vào năm 1872. Viện trưởng thời kỳ đó là GS. Elliot đã có sáng kiến đưa ra một hệ thống các môn học để sinh viên lựa chọn, thoạt đầu là cho sinh viên năm cuối và từ 1889 cho tất cả các sinh viên của trường.
Đến năm 1890 ở ĐH Harvard việc hoàn thiện toàn bộ chương trình khóa học và nhận văn bằng được tính bằng việc sinh viên tích lũy đủ số tín chỉ cần thiết. Cho đến nay các trường ĐH của hầu hết các nước, kể cả các nước đang phát triển cũng đang áp dụng hệ thống này. Các nghiên cứu thực tiễn về công tác cố vấn học tập được các tác giả trên thế giới bàn đến (chủ yếu là các nước nói tiếng Anh) từ rất lâu trong quá trình phát triển các phương thức dạy - học ở bậc đại học. Các tác giả Gallagher & Demo (1983), Rudolph (1990), Terry L.
Kuhn (1996), Brian Gillispie (2001) nhận định, từ thế kỷ thứ 17, ở các trường cao đẳng, đại học đầu tiên được thành lập ở Mỹ như Harvard, William và Mary, Yale. đã hướng tới việc đào tạo ra những cử nhân có tri thức và lịch lãm bằng cách làm mẫu cho học sinh về mặt đạo đức và trí tuệ thông qua cách cư xử của tất cả giáo viên trong trường. Theo các nhà nghiên cứu này, hoạt động CVHT trải qua 3 giai đoạn, trong mỗi giai đoạn có những sự khác biệt về vai trò, nhiệm vụ và kỹ năng tư vấn [38]. Giai đoạn thứ nhất: Các tác giả Morison (1946), Rudolph (1962), Frost (2000) cho rằng ở giai đoạn này, hoạt động cố vấn học tập hình thành nhưng chưa được định nghĩa.
Bắt đầu từ năm 1636, tại trường ĐH Harvard các giáo 6 viên và sinh viên cùng sống trong một tòa nhà, họ cùng ăn uống, thư giãn, giải trí, cầu nguyện và tuân theo những kỷ luật chung. John Ducan (1823) cho biết, chỉ cần “một hiệu trưởng, hai giáo sư và hai trợ giảng thì có thể trở thành một trường học hoàn chỉnh” vì công việc chính của giảng viên là trợ giúp sinh việc trong sinh hoạt, học tập. Giai đoạn thứ hai: Theo Frost (2000), từ năm 1870 đến 1970 là giai đoạn “CVHT trở thành một hoạt động được định nghĩa nhưng chưa được kiểm tra”. Rudolph (1962) cho biết, khi việc học tập của SV được thiết kế theo chương trình (năm 1877) thì SV cần có một người theo dõi sát sao để hướng dẫn cụ thể.
Theo Gordon (1992), Brian Gillispie (2009), Strange (1994), Strommer (1999) đây chính là thời kỳ hoạt động của các cố vấn học tập được định hướng một cách rõ ràng nhất, CVHT hướng dẫn cho SV chọn môn học như thế nào cho phù hợp với nhu cầu và năng lực. Tuy nhiên, nghiên cứu của Veysey (1965) nhận ra có những bất cập như thái độ của CVHT “đang dần thoái hóa và trở thành một công việc hời hợt”, các kỹ năng tư vấn trong lượt tư vấn đang trở thành “những buổi trò chuyện bâng quơ, vắn tắt”. Các CVHT bị phân tâm giữa những việc giảng dạy với các áp lực khác. Giai đoạn thứ ba: Nghiên cứu của Frost (2000) đã xác định giai đoạn thứ 3 là từ năm 1970 cho đến nay, công tác “cố vấn học tập đã trở thành một hoạt động được định nghĩa và kiểm tra”.
Đây là giai đoạn hình thức đào tạo theo tín chỉ được gọi tên, và chức danh cố vấn học tập cũng chỉ bắt đầu xuất hiện khi có hình thức đào tạo theo tín chỉ. Gordon (1992) cho rằng các trường đại học trong những năm 1960 đến 1970 đã trở thành nơi cung cấp dịch vụ đào tạo cho người học, vì thế, các em tìm đến CVHT để tìm hiểu mọi thông tin về ngành nghề, tính trách nhiệm của trường, sự công bằng giữa các SV (Komives, SR, Woodard Jr, D. B, Associates, 1996) để kiến nghị về các dịch vụ, chất lượng đào tạo và để khám phá về năng khiếu của từng em (Zunker, 2002). 7 Hoạt động CVHT được thúc đẩy và hoàn thiện từ năm 1979, khi Hiệp hội Cố vấn học tập Quốc gia (NACADA) ra đời.
Đây là một hiệp hội các nhà tư vấn chuyên nghiệp, giáo viên tư vấn, quản trị viên và có cả những sinh viên, họ cùng nhau làm việc, nghiên cứu, thực hành để tìm cách tăng cường, phát triển chất lượng của giáo dục và đào tạo theo tín chỉ (Beauty, 1991). Hầu hết các trường đại học và cao đẳng trên thế giới hiện nay đều có Trung tâm/Văn phòng tư vấn của CVHT, những người thực hiện công việc này đều được đào tạo từ các ngành trợ giúp hoặc tốt nghiệp từ ngành Tâm lý, Tham vấn, Công tác xã hội hoặc Giáo dục; hàng năm họ đều có những cuộc kiểm tra, đánh giá về chất lượng hoạt động. Như vậy, ở Mỹ, để có được công tác CVHT như ngày nay, họ đã trải qua những chặng đường dài trong xây dựng, phát triển. Bắt đầu từ việc lựa chọn các quan điểm, nhìn lại quá trình đào tạo, hình thành người trợ giúp cho người học, rồi đến việc xây dựng những quy định, yêu cầu cụ thể đối với người CVHT.
Có thể khẳng định rằng chức danh CVHT học tập chỉ tồn tại khi có hệ thống đào tạo theo tín chỉ, ở nước ta, cũng chỉ khi áp dụng đào tạo tín chỉ thì mới có chức danh này, khi còn đào tạo theo niên chế, chỉ có chức danh giáo viên chủ nhiệm. Ở trong nước, từ năm 1988, theo chủ trương của Bộ Giáo dục và Đào tạo nhiều trường Đại học Việt Nam đã áp dụng học chế mềm dẻo, kết hợp niên chế với modun hoá kiến thức theo học phần - đơn vị học trình. Về cơ bản học chế của giáo dục đại học Việt Nam đang áp dụng nhiều yếu tố của hệ thống tín chỉ của giáo dục đại học thế giới. Từ năm học 1993-1994 ĐH Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh, và từ năm học 1994-1995 trường ĐH Đà Lạt và một số khá đông các trường ĐH khác ở cả ba miền cũng bắt đầu áp dụng học chế học phần - đơn vị học trình một cách triệt để hơn, gần với hệ thống tín chỉ hơn.
Gắn với học chế tín chỉ là sự xuất hiện của chức danh cố vấn học tập. CVHT có vai trò đặc biệt quan trọng, không thể thiếu trong đào tạo theo học 8 chế tín chỉ. Mỗi CVHT là một nhân tố then chốt trong mối quan hệ nhà trường - sinh viên; là một chuyên gia tư vấn về học tập, nghiên cứu khoa học, rèn luyện, định hướng nghề nghiệp và cả tâm tư tình cảm cho sinh viên trong suốt quá trình học tập tại trường. Từ tháng 3 đến tháng 5/2011, Trường Đại học KHXH&NV - ĐH Quốc gia Hà Nội đã tổ chức cuộc thi: “Nghiệp vụ cố vấn học tập” với chủ đề “Đồng hành - Trách nhiệm - Sáng tạo”.
Cuộc thi đã thu hút 60 CVHT tham gia và được chia ra thành 14 đội. Thông qua hình thức sân khấu hóa, các giảng viên CVHT đã giới thiệu sinh động về các ngành học trong trong nhà trường, giúp sinh viên hiểu rõ hơn về ngành học mình đang theo đuổi và các ngành học có thể học văn bằng 2. Các giảng viên cũng giới thiệu để sinh viên hiểu rõ hơn về vai trò của CVHT, SV có thể đặt câu hỏi cho thầy cô CVHT ngay trong hội thi và cùng tham gia chấm điểm một cách khách quan [11]. Tháng 6/2011, Đại học Cần Thơ tổ chức hội nghị: “Nâng cao vai trò cố vấn học tập” [10] với mục đích tạo cơ hội để CVHT và sinh viên nêu được những ưu điểm, những khó khăn, vướng mắc và đề xuất những mong đợi, hướng giải pháp trong công tác CVHT.
Qua đó, nhà trường tìm ra những giải pháp để phát huy ưu điểm, khắc phục nhược điểm, đề ra quy định phù hợp sao cho công tác CVHT ngày càng hoàn thiện. Tháng 8/2011, Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn - ĐH Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức khóa tập huấn: “Công tác tư vấn học tập và quản lý học vụ” nhằm xem xét hoạt động của đội ngũ CVHT sau một khóa đào tạo, nhận diện những thành tựu cũng như những hạn chế, nhược điểm, qua đó tìm biện pháp tháo gỡ để nâng chất hoạt động của đội ngũ CVHT [12]. Các nghiên cứu về quản lý hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ cố vấn học tập cho giảng viên Vấn đề bồi dưỡng và quản lý hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ cho giáo viên nói chung luôn được các nhà khoa học giáo dục quan tâm nghiên cứu. 9 Các tác giả Hannele Niemi và Ritva Jakku- Sihvonen cho rằng việc Phần Lan quyết định nâng chuẩn trình độ giáo viên phổ thông lên trình độ thạc sĩ đã giúp hệ thống GD nước này gặt hái được nhiều thành công (đạt thành tích cao nhất trong nhiều kỳ thi PISA do Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế OECD thực hiện).
Mọi giáo viên trên đất nước Phần Lan có nghĩa vụ và quyền hạn không ngừng học tập, phát triển năng lực chuyên môn. Ủy ban Văn hóa và Giáo dục thuộc Liên minh châu Âu khi nghiên cứu về đào tạo giáo viên tiểu học và trung học xác định: việc bồi dưỡng giáo viên là cần thiết, phải được chú trọng và xây dựng kế hoạch lâu dài cho công tác bồi dưỡng giáo viên ở giai đoạn tiếp nối trong công cuộc đổi mới giáo dục. Bang Brandenburg, Cộng hoà Liên bang Đức cũng quy định rõ trong luật nhà trường: giáo viên phải có nghĩa vụ tham gia hoạt động bồi dưỡng, có ý thức cập nhật kiến thức mới một cách thường xuyên và đưa vào các biện pháp nâng cao năng lực chuyên môn. Trung tâm Nghiên cứu và Đổi mới giáo dục thuộc OECD, (1998) đưa ra kết luận: “Các chính sách đổi mới GD sẽ không đem lại hiệu quả gì nếu bản thân người giáo viên không thay đổi”.