Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC XÂY DỰNG KẾ HOẠCH CHĂM SÓC GIÁO DỤC TRẺ CHO GIÁO VIÊN MẦM NON THEO CHUẨN NGHỀ NGHIỆP 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu về bồi dưỡng năng lực chăm sóc giáo dục trẻ cho GVMN theo CNN Bồi dưỡng đội ngũ GV được xem là nhiệm vụ thường xuyên, có ý nghĩa trực tiếp quyết định đến chất lượng đội ngũ, được đa số các quốc gia trên thế giới coi là vấn đề phát triển cơ bản trong phát triển giáo dục. Các cấp QLGD luôn đi đầu trong công tác đổi mới GD, khuyến khích và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để GV bổ sung, tiếp cận kiến thức, phương pháp mới phù hợp với xu thế phát triển của giáo dục.
Năm 1998 Hội nghị UNESCO tổ chức tại Nepan với nội dung tổ chức QL nhà trường đã khẳng định: “Xây dựng, phát triển và bồi dưỡng đội ngũ GV là vấn đề cơ bản trong phát triển giáo dục” [Trích theo 41]. Khi bàn về giải pháp nâng cao năng lực cho đội ngũ GV, tác giả Nguyễn Thị Tuyết Hạnh khái quát: “Các trường sư phạm ở các nước có nền GD tiên tiến như Úc, Hoa Kì, New Zeland. đã thành lập các cơ sở bồi dưỡng GV để tạo điều kiện thuận lợi cho GV tham gia học tập không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ” [27]. Công tác bồi dưỡng và đào tạo lại cho GV là nhiệm vụ bắt buộc đối với người lao động sư phạm ở các nước châu Á đặc biệt như ở Nhật Bản.
Tùy theo điều kiện thực tế của từng cơ sở giáo dục, cá nhân mà các cấp QLGD đề ra các phương thức bồi dưỡng khác nhau trong một phạm vi theo yêu cầu nhất định. Mô hình TGM của Singapore định hướng phát triển GV trong thế kỷ mới, yêu cầu GV cần phải cập nhật kiến thức, kỹ năng mới, phù hợp với yêu 6 cầu hiện đại để truyền đạt đến học sinh, giúp học sinh phát triển toàn diện. Mô hình TGM đặt ra 5 mục tiêu đối với người GV Singapore trong thế kỷ 21: GV phải 1à nhà GD có đạo đức; Nhà chuyên môn có năng lực; Người học có khả năng cộng tác; Nhà 1ãnh đạo có khả năng biến hóa và là thành viên tích cực xây dựmg cộng đồng [27]. Hàn Quốc là một trong những nước có chính sách rất thiết thực về bồi dưỡng và đào tạo lại cho đội ngũ GV.
Tại quốc gia này, tất cả GV phải học tập tham gia đầy đủ các nội dung về chương trình nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ theo quy định. “Chương trình bồi dưỡng GV mới” được thực hiện trong 10 năm và “Chương trình trao đổi” để đưa GV đi tập huấn ở nước ngoài. Tại Thái Lan, bắt đầu từ năm 1998 việc bồi dưỡng GV được tiến hành ở trung tâm học tập cộng đồng nhằm thực hiện GD cơ bản, huấn luyện kĩ năng nghề nghiệp và thông tin tư vấn cho mọi người dân trong xã hội. Tại Philippin, công tác nâng cao chất lượng đội ngũ GV tổ chức bồi dưỡng thành từng khóa học trong thời gian học sinh nghỉ hè.
Hè thứ nhất chỉ học các nội dung môn học, nguyên tắc dạy học, tâm lý học và đánh giá GD; hè thứ hai tăng cường các khóa học về quan hệ con người, triết học giáo dục, nội dung và phương pháp GD; hè thứ ba gồm nghiên cứu GD, viết tài liệu GD và hè thứ tư tổng hợp kiến thức nâng cao, kỹ năng nhận xét, vấn đề lập kế hoạch giảng dạy, viết tài liệu giảng dạy, viết sách giáo khoa, viết sách tham khảo [27]. Ở Việt Nam, công tác bồi dưỡng GV là nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng của cơ quan QLGD và của mỗi cơ sở GD. Đã có khá nhiều công trình nghiên cứu liên quan tới bồi dưỡng năng lực cho đội ngũ GV. Cụ thể như: Hai tác giả Nghiêm Đình Vỳ và Nguyễn Khắc Hưng trong công trình nghiên cứu của mình đã khẳng định: “Thầy giáo là yếu tố quyết định hàng đầu đối với chất lượng GD, do đó muốn phát triển GD thì trước hết và trên hết phải phát triển đội ngũ GV cả về số lượng và chất lượng” [48].
Tác giả Đặng Quốc Bảo nhấn mạnh: “Bất cứ hoàn cảnh nào dù khó 7 khăn đến đâu, ngành GD cũng tìm mọi biện pháp mở trường, lớp (dài hạn, ngắn hạn, cấp tốc, tập trung, phân tán, nhóm nhỏ.) để đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên” [5]. Tác giả Trần Quang Quý đã đề cập rất nhiều đến nghề thầy, người thầy, năng lực sư phạm và con đường nâng cao năng lực sư phạm cho giáo viên [41]. Tác giả Nguyễn Vinh Hiển khi bàn đến đào tạo nguồn nhân lực giáo dục mầm non đã nhấn mạnh: Bồi dưỡng đội ngũ GV đáp ứng yêu cầu đổi mới là nhiệm vụ then chốt trước mắt cũng như lâu dài trong toàn ngành nói chung [30]. Tác giả Nguyễn Thị Tuyết Hạnh đã nhấn mạnh: “Chuẩn bị cho GV những kiến thức, kĩ năng cơ bản trên cơ sở hiểu và triển khai được các chuẩn quốc gia và khu vực trong công tác đào tạo và bồi dưỡng GV” [27].
Tác giả Ngô Công Hoàn (1995) trong cuốn sách “Giao tiếp và ứng xử của cô giáo với trẻ em” đã trình bày các vấn đề cơ bản về phương thức giao tiếp với trẻ em, ứng xử của cô giáo mầm non, người lớn, xã hội đối với quá trình hình thành “nhân cách gốc” ở trẻ em tuổi mầm non [31]. Tác giả Đinh Thị Kim Thoa (2008), với “Đánh giá trong giáo dục mầm non” đã bàn về phương pháp đánh giá trong giáo dục mầm non từ đó làm tiền đề cơ sở cho công tác bồi dưỡng năng lực cho đội ngũ GVMN [42]. Bên cạnh đó, cũng đã có nhiều luận văn thạc sỹ QLGD, tạp chí khoa học đã nghiên cứu, đề cập, đưa ra những biện pháp, khía cạch khác nhau về bồi dưỡng đội ngũ GV ở các trường. Tùy từng giai đoạn, hoàn cảnh cụ thể của các nhà trường, từng điều kiện việc sử dụng các giải pháp bồi dưỡng, vận dụng lý luận sẽ có sự khác nhau.
Các công trình tiêu biểu như: “Giải pháp BD chuẩn hóa GV mẫu giáo các tỉnh Duyên hải miền Trung” của Tác giả Nguyễn Huy Thông (1999); “Một số giải pháp quản lý phát triển đội ngũ GV MN trên địa bàn huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh” của Tác giả Vũ Đức Đạm (2005); “Quản lý của hiệu trưởng nhằm nâng cao năng lực sư phạm cho GVMN thành phố Thái Nguyên” của Tác giả Lưu Thị Kim Phượng (2009); “Thực trạng 8 hoạt động quản lý việc bồi dưỡng chuyên môn cho GV ở một số trường MN tại TP Hồ Chí Minh” của Tác giả Nguyễn Hữu Lê Duyên (2011). các tác giả trên đã tập trung nghiên cứu các vấn đề như xây dựng, bồi dưỡng, quy hoạch, quản lý, phát triển đội ngũ GV. Những nghiên cứu đó đã từng bước củng cố, hoàn thiện dần cơ sở lý luận về bồi dưỡng và quản lý bồi dưỡng giáo viên đồng thời đề xuất các biện pháp trong việc quản lý, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của địa phương, điều kiện của từng trường mà tác giả đang hoạt động để từng bước củng cố, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ này trở thành lực lượng chủ yếu nhằm không ngừng nâng cao chất lượng GD&ĐT. Các nghiên cứu về quản lý bồi dưỡng năng lực xây dựng kế hoạch chăm sóc giáo dục trẻ cho GVMN theo CNN Giáo viên mầm non là nhân tố quan trọng quyết định chất lượng giáo dục mầm non.
Muốn nâng cao chất lượng giáo dục trước hết phải có đội ngũ giáo viên có chất lượng tốt. Đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về quản lý bồi dưỡng GVMN. Tuy nhiên, vấn đề bồi dưỡng GVMN theo CNN chưa được nghiên cứu sâu và có hệ thống. Một số công trình nghiên cứu tiêu biểu như: Quản lý hoạt động bồi dưỡng GV trường mầm non ở thị trấn Văn Điển, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội đáp ứng CNN (Tác giả Triệu Thị Kim Ngọc - 2015).
Tác giả Lê Quế Anh (2013), nghiên cứu: “Quản lý bồi dưỡng đội ngũ GVMN theo CNN tại tỉnh Cao Bằng”, đã tổng thuật lại các khái niệm về quản lý, quản lý giáo dục, quản lý hoạt động bồi dưỡng GV, trên cơ sở đó tác giả phân tích, đánh giá thực trạng theo tiếp cận nội dung và đề ra 4 biện pháp trong đó có biện pháp nâng cao nhận thức cho đội ngũ CBQL và GV về hoạt động bồi dưỡng đáp ứng CNN [1]. Tác giả Lê Thị Bích (2014), nghiên cứu đề tài: “Quản lý hoạt động bồi dưỡng GV trường mầm non thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh theo CNN” đã đưa ra nội dung bồi dưỡng GVMN theo CNN và các nội dung quản lý 9 GVMN theo CNN, từ đó khảo sát thực trạng và đề ra 6 biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả bồi dưỡng đội ngũ GVMN [7]. Qua các công trình nghiên cứu nêu trên và thực tiễn cho thấy, QL hoạt đông bồi dưỡng cho GV được nhiều nhà khoa học, QL và GV quan tâm nghiên cứu. Tuy tiếp cận ở các góc độ khác nhau, song các công trình nghiên cứu đều tập trung vào hai mảng chính đó là nghiên cứu công tác QL hoạt động bồi dưỡng đội ngũ GV theo cấp học, ngành học và nghiên cứu QL hoạt động bồi dưỡng đôi ngũ GV theo từng cơ sở GD thuộc bậc, cấp, ngành học theo CNN bằng con đường tổ chức các hoạt động đào tạo bồi dưỡng đôi ngũ GV.
Qua đó, các công trình nghiên cứu cũng đều đã khẳng định vị trí, vai trò, sự cần thiết và một số biện pháp tiến hành công tác bồi dưỡng và quản lý hoạt động bồi dưỡng cho GV tại các cơ sở giáo dục. Mặc dù vậy, đến nay vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu trực tiếp về “Quản lý bồi dưỡng năng lực xây dựng kế hoạch chăm sóc giáo dục trẻ cho GV các trường mầm non ở huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh theo CNN”. Trên cơ sở tiếp thu, kế thừa có chọn lọc, đề tài luận văn này sẽ làm rõ hơn những vấn đề lý luận về quản lý bồi dưỡng năng lực xây dựng kế hoạch chăm sóc giáo dục trẻ cho GVMN, đánh giá thực trạng, trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp có tính cấp thiết, tính khả thi phù hợp với đặc điểm tình hình của địa phương trong quản lý bồi dưỡng GVMN nhằm góp phần cùng nâng cao chất lượng đội ngũ GVMN huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh đáp ứng CNN trong giai đoạn hiện nay. Các khái niệm cơ bản 1.